Saturday, February 7, 2009

Wednesday, December 17, 2008

9 Thủ Đoạn Xâm Lấn Của Trung Quốc

Thưa quí thính giả và độc giả của Radio Chân Trời Mới,

Chỉ vào một vài thời điểm rất hiếm hoi trong hơn nửa thế kỷ qua mà nhà cầm quyền CSVN thực sự tiết lộ những hành vi và ý định xâm lấn có tính qui mô, kế hoạch và liên tục của Bắc Kinh đối với lãnh thổ Việt Nam. Vào năm 1979, khi các xung đột lớn diễn ra giữa 2 nước, Lãnh đạo Đảng đã cho in 3 cuốn sách với tựa đề:

- Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam - Trung Quốc Trong 30 Năm Qua của Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN.

- Phê Phán Chủ Nghĩa Bành Trướng và Bá Quyền Nước Lớn Của Giới Cầm Quyền Phản Động Bắc Kinh của Ủy Ban Khoa Học Xà Hội Việt Nam.

- Vấn Đề Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc của Nhà xuất bản Sự Thật.

Dưới đây là nguyên văn chương 2 của cuốn "Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc", liệt kê 9 loại thủ đoạn mà Trung Quốc đã sử dụng để xâm chiếm đất nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua.


Chương 2

Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay

Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã lần lượt lấn chiếm hết khu vực này đến khu vực khác của Việt Nam, từ khu vực nhỏ hẹp đến khu vực to lớn, từ khu vực quan trọng về quân sự đến khu vực quan trọng về kinh tế. Họ đã dùng đủ loại thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn xấu xa mà các chế độ phản động của Trung Quốc trước kia không dùng. Dưới đây là một số thủ đoạn chính:

1- Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất.

Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một giải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư. Những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.

Khu Vực Trình Tường thuộc tỉnh Quảng Ninh là một thí dụ điển hình cho kiểu lấn chiếm đó. Khu vực này được các văn bản và các bản đồ hoạch định và cắm mốc xác định rõ ràng là thuộc lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình Tường, những người Trung Quốc sang quá canh ở Trình Tường đều đóng thuế cho nhà đương cục Việt Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. Nhà đương cục Trung Quốc nghiễm nhiên biến một vùng lãnh thổ Việt Nam dài 6 kí-lô-mét, sâu hơn 1300 kí-lô-mét thành sở hữu tập thể của một công xã Trung Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh sống ở Trình Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện thoại, tự cho phép đi tuần tra khu vực này, đơn phương sửa lại đường biên giới sang đồi Khâu Thúc của Việt Nam. Tiếp đó, họ đã gây ra rất nhiều vụ hành hung, bắt cóc công an vũ trang Việt Nam đi tuần tra theo đường biên giới lịch sử và họ phá hoại hoa màu của nhân dân địa phương. Trình Tường không phải là một trường hợp riêng lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung Quốc tranh lấn với thủ đoạn tương tự như xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc (mốc 25, 26, 27) ở Lạng Sơn, Khẳm Khau (mốc 17-19) ở Cao Bằng, Tả Lũng, Làn Phù Phìn, Minh Tân (mốc 14) ở Hà Tuyên, khu vực xã Nặm Chay (mốc 2-3) ở Hoàng Liên Sơn với chiều dài hơn 4 kí-lô-mét, sâu hơn 1 kí-lô-mét, diện tích hơn 300 héc-ta. Có thể nói đây là một kiểu chiếm đất một cách êm lặng.

2- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1955, tại khu vực Hữu nghị quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên, gần Hà Nội, lợi dụng long tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300 mét so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho nghành đường sắt hai bên điều chỉnh lại đường nối ray cho phù hợp đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét. Cho đến nay, họ vẫn trắng trợn ngụy biện rằng khu vực hơn 300 mét đường sắt đó là đất Trung Quốc với lập luần rằng “không thể có đường sắt của nước này đặt trên lãnh thổ nước khác”. Cũng tại khu vực này, phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam quan 100 mét trên đuờng quốc lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột kí-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100 mét, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này.

Như vậy, họ đã lấn chiếm một khu vực liên hoàn từ đường sắt sang đường bộ thuộc xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam, dài 3100 kí-lô-mét và vào sâu đất Việt Nam 0,500 kí-lô-mét. Năm 1975, tại khu vực mốc 23 (xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn), họ định diễn lại thủ đoạn tương tự khi hai bên phối hợp đặt đường ống dẫn dầu chạy qua biên giới: phía Việt Nam đề nghị đặt điểm nối ống dẫn dầu đúng đường biên giới, họ đã từ chối, do đó bỏ dở công trình này. Khi xây dựng các công trình cầu cống trên sông, suối biên giới, phía Trung Quốc cũng lợi dụng việc thiết kế kỹ thuật làm thay đổi dòng chảy của sông, suối về phía Việt Nam, để nhận đường biên giới có lợi cho phía Trung Quốc.

Cầu ngầm Hoành Mô thuộc tình Quảng Ninh được Trung Quốc giúp xây dựng vào năm 1968. Một thời gian dài sau khi cầu được xây dựng xong, hai bên vẫn tôn trọng đường biên giới ở giữa cầu ; vật liệu dự trữ để sửa chữa cầu sau này cũng được đặt ở mỗi bên với số lượng bằng nhau tính theo đường biên giới giữa cầu. Nhưng do Trung Quốc có sẵn ý đồ chỉ xây một cống nước chảy nằm sát bờ Việt Nam nên lưu lượng dòng chảy đã chuyển hẳn sang phía Việt Nam, từ đó phía Trung Quốc dịch đường biên giới trên cầu quá sang đất Việt Nam. Thủ đoạn như vậy cũng được thực hiện đối với cầu ngầm Pò Hèn (Quảng Ninh), đập Ái Cảnh (Cao Bằng), cầu Ba Nậm Cúm (Lai Châu)…

3- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.

Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.

Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung Quốc đã huy động trên 2000 người, kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.

Các thị trấn Ái Điểm (đối diện với Chi Ma, Lạng Sơn), Bình Mãng (đối diện Sóc Giang, Cao Bằng) vốn đã nằm sát các mốc giới 43 và 114, lại ngày càng được phía Trung Quốc mở rộng ra lấn sang đất Việt Nam từ hang chục đến hàng trăm mét với Công trình nhà cửa, trường học, khu phố… Bằng cách tổ chức lâm trường, trồng cây gây rừng, làm đường chắn lửa, đặt hệ thống điện cao thế, điện thoại lấn vào lãnh thổ Viêt Nam, Trng Quốc đã biến nhiều vùng đất khác của Việt Nam thành đất của Trung Quốc.

4- Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc.

Ở một số địa phương, do địa hình phức tạp, điều kiện sinh hoạt của dân cư Trung Quốc gặp khó khăn, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, Việt Nam đã cho Trung Quốc mượn đường đi lại, cho dùng mỏ nước, cho chăn trâu, lấy củi, đặt mồ mã… trên đất Việt Nam. Nhưng lợi dụng thiện chí đó của Việt Nam, họ đã dần dần mặc nhiên coi những vùng đất mượn này là đất Trung Quốc. Khu vực Phia Un (mốc 94-95) thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng là điển hình cho kiểu lấn chiếm này. Tại đây, mới đầu phía Trung Quốc mượn con đường mòn, rồi tự ý mở rộng mặt đường để ô-tô đi lại được vào khu vực mỏ của Trung Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập làng bản mới. Dựa vào “thực tế” đó, từ 1956 họ không thừa nhận đường biên giới lịch sử chạy trên đỉnh núi Phía Un mà đòi biên giới chạy xa về phía nam con đường, sâu vào đất Việt Nam trên 500 mét. Lý lẽ của họ là nếu không phải đất của Trung Quốc sao họ lại có thể làm đường ô-tô, đặt đường điện thoại được… Nguyên nhân chủ yếu của việc lấn chiếm là vì khu vực Phía Un có mỏ măng-gan.

5- Xê dịch và xuyên tạc pháp lý các mốc quốc giới để sửa đổi đường biên giới.

Ngoài việc lợi dụng một số các mốc giới đã bị Trung Quốc xê dịch từ trước sai với nguyên trạng đường biên giới lịch sử để chiếm giữ trái phép đất Việt Nam, nay phía Trung Quốc cũng tự ý di chuyển mốc ở một số nơi, hoặc lén lút đập phá, thủ tiêu các mốc không có lợi cho họ như ở khu vực Chi Ma (Lạng Sơn), khu vực mốc 136 ở Cao Bằng… Đối với những trường hợp như vậy, họ đều khước từ đề nghị của phía Việt Nam về việc hai bên cùng điều tra và lập biên bản xác nhận. Ngay tại một số nơi mà vị trí mốc giới đặt đúng với đường biên giới đã rõ ràng chạy giữa hai mốc như khu cực Kùm Mu-Kim Ngân-Mẫu Sơn (mốc 41, 42, 43) ở Lạng Sơn dài trên 9 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2,5 ki-lô-mét, diện tích gần 1000 héc-ta, khu vục Nà Pảng – Kéo Trình (mốc 29, 30, 31) ở Cao Bằng, dài 6,450 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 1,300 ki-lô-mét, diện tích gần 200 héc-ta.

6- Làm đường biên giới lấn sang đất Việt Nam.

Để chuẩn bị cho các cuộc tiến công xâm lược Việt Nam, liên tiếp trong nhiều năm trước, phía Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch làm đường biên giới quy mô lớn nấp dưới danh nghĩa là để “cơ giới hóa nông nghiệp”. Đặc biệt là từ năm 1974 lại đây, họ đã mở ồ ạt những chiến dịch làm đường có nơi huy động một lúc 8,000 người vào công việc này. Trong khi làm các đường đó, họ phá di tích về đường biên giới, lịch sử, nhiều nơi họ đã lấn vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ tính từ tháng 10 năm 1976 đến năm 1977, bằng việc làm đường biên giới họ đã lấn vào đất Việt Nam tại hàng chục điểm, có điểm diện tích rộng trên 32 héc-ta, sâu vào đất Việt Nam trên 1 kí-lô-mét như khu vực giữa mốc 63-65 thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng hay khu vực giữa mốc 1-2 Cao Ma Pờ thuộc tỉnh Hà Tuyên dài 4 kí-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2 kí-lô-mét.

7- Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới.

Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ: họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác-Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.

8- Dùng lực lượng vũ trang uy hiếp và đóng chốt để chiếm đất.

Trên một số địa bàn quan trọng, phía Trung Quốc trắng trợn dùng lực lượng võ trang để cố đạt tới mục đích xâm lấn lãnh thổ. Tại khu vực Trà Mần-Suối Lũng (mốc 136-137) thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, năm 1953 Trung Quốc đã cho một số hộ dân Trung Quốc sang xâm cư ở cùng dân của Việt Nam, sau đó, họ tiếp tục đưa dân sang thêm hình thành ba xóm với 16 hộ, 100 nhân khẩu mà họ đặt tên Si Lũng theo tên một làng ở Trung Quốc gần đó. Tuy thế, cho đến năm 1957 phía Trung Quốc vẫn thừa nhận khu vực nầy là đất của Việt Nam. Từ năm 1957 trở đi, họ tiến hành việc dựng trường học, bắc dây truyền thanh đào hố khai thác than chì rồi ngang nhiên cắm cờ biểu thị chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

Tháng 6 năm 1976, họ đã trắng trợn đưa lực lượng vũ trang đến đóng chốt để đàn áp quần chúng đấu tranh và ngăn cản việc tuần tra của Việt Nam vào khu vực này, chiếm hẳn một vùng đất của Việt Nam trên 3,2 kí-lô-mét, có mỏ than chì.

Ở khu vực giữa mốc 2-3 thuộc xã Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn cũng xảy ra tình hình như vậy. Năm 1967-1968, nhiều hộ người Mèo thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chạy sang định cư ở đây. Phía Việt Nam đã yêu cầu phiá Trung Quốc đưa số dân đó trở về Trung Quốc, nhưng họ đã làm ngơ, lại tiếp tục tăng số dân lên đến 36 hộ gồm 152 người, vào vùng nầy thu thuế, phát phiếu vải cho dân, đặt tên cho xóm dân Mèo này là “Sin Sài Thàng”, tên của một bản Trung Quốc ở bên kia biên giới cách khu vực này 3 ki-lô-mét. Mặc dù phía Việt Nam đã nhiều lần kháng nghị, họ vẫn không rút số dân đó đi, trái lại năm 1976 còn đưa lực lượng vũ trang vào đóng chốt chiếm giữ. Nay họ đã lập thêm đường dây điện thoại, loa phóng thanh, dựng trường học, tổ chức đội sản xuất, coi là lãnh thổ Trung Quốc.

9- Đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (3).

Quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) cách Đà Nẵng khoãng 120 hải lý về phía đông. Phía Việt Nam có đầy đủ tài liệu để chứng minh rằng quần đảo này, cũng như quần đảo Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) ở phía nam, là lãnh thổ Việt Nam. Từ lâu, nhân dân Việt Nam đã phát hiện và khai thác quần đảo Hoàng Sa; nhà Nguyễn đã chính thức thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ nước Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX, Pháp, nhân danh nước Việt Nam, đã lập trạm khí tượng mà các số liệu được cung cấp liên tục trong mấy chục năm cho Tổ Chức Khí tượng thế giới (OMM) dưới ký hiệu Hoàng Sa (Pattle). Việt Nam đã liên tục thực hiện chủ quyền của mình đối với quần đảo này. Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa là rõ rang và không thể chối cãi được.

Nhưng sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam theo quy định của Hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973, và nhân lúc nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng miền nam Việt Nam và ngụy quyền miền nam sắp sụp đổ, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã trắng trợn dùng lực lượng vũ trang chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Cách họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vẫn là cách họ đã dùng để lấn chiếm đất đai của các nước láng giềng, nhưng với một sự phản bội hèn hạ vì họ luôn luôn khoe khoang là “hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam anh em”. Đại để sự kiện diễn biến như sau:

- Ngày 26 tháng 12 năm 1973, Bộ ngoại giao Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông báo cho Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa biết ý định của mình sẽ tiến hành thăm dò dầu lửa trong vịnh Bắc Bộ và đề nghị hai nước tiến hành đàm phán để xác định chính thức biên giới giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ

- Ngày 11 tháng 1 nắm 1974, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc tuyên bố đảo Tây Sa (tức là Hoàng Sa của Việt Nam), quần đảo Nam Sa (tức là Trường Sa của Việt Nam) là lãnh thổ của Trung Quốc và không cho ai xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Trung Quốc.

- Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Trung Quốc trả lời phiá Việt Nam, đại ý nói: đồng ý đề nghị đàm phán về vịnh Bắc Bộ, nhưng không đồng ý cho nước thứ ba vào thăm dò, khai thác vịnh Bắc Bộ, thực tế là họ ngăn cản Việt Nam hợp tác với Nhật-bản, Pháp, Ý trong việc thăm dò, khai thác thềm lục địa Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ.

- Ngày 19 tháng 1 năm 1974, với một lực lượng lớn hải quân và không quân, Trung Quốc tiến hành đánh quân đội của chính quyền Sài Gòn đóng ở quần đảo Hoàng Sa và họ gọi cuộc hành quân xâm lược quần đảo này là “cuộc phản công tự vệ”.

Từ năm 1973 về trước, phía Trung Quốc đã lấn chiếm, gây khiêu khích ở nhiều nơi trên biên giới Việt-Trung. Từ khi họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, các sự kiện biên giới do họ gây ra, các vụ lấn chiếm đất đai Việt Nam ngày càng tăng:

Năm 1974: 179 vụ.

Năm 1975: 294 vụ.

Năm 1976: 812 vụ.

Năm 1977: 873 vụ.

Năm 1978: 2175 vụ.

http://www.radiochantroimoi.com/spi...


Wednesday, August 27, 2008

Vượt Tường Lửa

Radio Chân Trời Mới (ấn bản 2008-08-18)

Tài liệu này không đề cập đến lý thuyết và các vấn đề của tường lửa, mà chỉ trình bày các cách vượt tường lửa ngắn gọn. Vì vượt tường lửa của các xứ độc tài (mà Việt Nam là một) là một hình thức rượt đuổi – khi người ta tìm ra được một cách vượt tường lửa thì chế độ độc tài lại tìm cách khóa lại, rồi người ta lại tìm một cách khác …. – do đó tài liệu này chỉ hữu ích nếu nó làm giúp được người dùng biết cách vượt tường lửa hơn là cung cấp nơi vượt tường lửa.

1. Dùng phần mềm đặc biệt để vượt tường lửa:

Có một số phần mềm có thể dùng trong việc vượt tường lửa để xem các trang web bị ngăn chận.

Tor:
http://www.torproject.org/ Sau khi download về, cần phải định hình browser. Để tiện gọn hơn, dùng torpark là một gói phần mềm miễn phí sẵn sàng để sử dụng mà không cần cài đặt gì cả. Download xuống và dùng thôi. Bạn tìm phần mềm torpark trên net, dùng keyword “torpark”. Torpark đã ngừng lại ở ấn bản 1.5.0.7. Thay thế nó là xB Browser.
xB Browser:
http://xerobank.com/xB_Browser.php. Phần mềm này là hậu thân của torpark. Nếu sử dụng với tính cách cá nhân thì bạn có thể dùng xB Browser miễn phí. Download nó xuống, cài đặt và dùng xB Browser như bạn dùng IE hay FireFox để vượt tường lửa xem các trang web bị chận.
FreeGate:
http://www.dit-inc.us/freegate Phần mềm miễn phí do công ty Dynamic Internet Technology (DIT) thực hiện để giúp người sử dụng tại Trung Quốc vượt tường lửa. Chỉ cần download và chạy. Phần mềm sẽ tự động đi tìm các proxy servers, định hình trong IE browser. Bạn dùng IE sau đó để xem các trang web bị chận.
UltraSurf:
http://www.ultrareach.com/company/download.htm Vì các trang web của Pháp Luân Công bị chận bởi tường lửa Trung Quốc họ mới thành lập công ty UltraReach Internet Corp để thực hiện phần mềm UltraSurf miễn phí giúp cho người dân Trung Quốc vượt tường lửa. Tuy nhiên bất cứ ai ở các quốc gia độc tài cũng dùng phần mềm này được để vượt tường lửa của xứ họ.

2. Dùng proxy servers để vượt tường lửa:

Proxy servers là những server làm trung gian để lướt mạng và qua đó giúp vượt tường lửa. Proxy servers trong dạng địa chỉ IP và bạn phải vào trong browser IE, FireFox, v.v… để cài địa chỉ IP của proxy server đó vào. Sau đó bạn dùng browser để lướt mạng xem những trang web bị chặn trước đó.

a) Tìm danh sách các proxy servers: Có những trang như
www.proxy4free.com liệt kê các proxy servers miễn phí. Nếu bạn không vào được trang trên thì vào net tìm “free proxy servers”.

b) Cài địa chỉ IP của proxy servers vào browser: Địa chỉ IP của proxy servers trong dạng số a.b.c.d và có thể có số cổng (port number). Thí dụ: 63.149.98.48, port 80.

Internet Explorer: Vào Tools, Internet Options, Connections, LAN settings, rồi trong phần “Proxy server”, điền vào địa chỉ IP và số cổng.
FireFox: Vào Tools, Options, Advanced, Network, bấm vào nút Settings, chọn “Manual proxy configuration”, rồi trong hàng HTTP Proxy, điền vào địa chỉ IP và số cổng.

3. Dùng Anonymizer web / web proxy để vượt tường lửa:

Anonymizer là những dịch vụ giúp người dùng lướt mạng một cách kín đáo và giúp đi xuyên qua tường lửa. Dịch vụ anonymizer căn bản chỉ là những trang web proxy. Người ta vào các trang web đó, rồi đánh vào địa chỉ của trang web đã bị ngăn chận. Các trang web anonymizer sẽ làm công việc trung gian chuyển tải nội dung trang web bị chận xuống đến máy vi tính của người lướt mạng.

Quý bạn không cần phải download phần mềm nào cả, không cài đặt gì cả, không sửa đổi gì trong browser của mình cả, chỉ duy nhất đến trang web cung cấp dịch vụ anonymizer (một số miễn phí, một số khác tính tiền)

Những trang anonymizer phổ thông như:
www.anonymouse.org
www.hidemyass.com
www.shadowsurf.com
www.anonymizer.com
https://proxify.com/
www.proxyforall.com
www.proxeasy.com
Nếu những trang trên đã bị chế độ độc tài biết đến và chận lại thì bạn vào các trang tìm kiếm như google.com, yahoo.com, v.v… để đi tìm cách dịch vụ khác. Chữ (keyword) đi tìm là “anonymizer”.
_________

Để tài liệu này ngày một hữu ích và dễ dùng hơn cho thật nhiều người, chúng tôi ước mong được đón nhận các góp ý, phê bình, và hướng dẫn từ tất cả các bạn.
Xin gởi về địa chỉ lienlac@radiochantroimoi.com

Thursday, August 7, 2008

TâM THư GởI LãNH đạO Bộ CHíNH TRị ĐảNG CSVN

Là một công dân Việt Nam tôi xin được gởi đến quý vị những lời tâm huyết này của chúng tôi, đây cũng là tâm huyết của đa số nhân dân mà trong thời gian qua tôi đã từng tiếp xúc và trao đổi ý kiến. Chắc quý vị cũng biết rằng tiền nhân ta có câu: /“dân như nước, quan như thuyền, nếu thuyền thuận dòng nước thì nước sẽ cùng thuyền đi, nếu ngược dòng nước thì nước sẽ cuốn trôi cho thuyền ở lại”/. Thật vậy trong tình hình của đất nước hiện nay, khi mà quốc nạn tham nhũng, bè phái, tiêu cực, quan liêu, mua quan bán chức…v.v… đã và đang xảy ra hàng ngày trong các cơ quan của chính quyền trở thành những câu chuyện dài không có hồi kết, cộng thêm nạn lạm phát phi mã đã khiến cho đại bộ phận nhân dân, nhất là thành phần công nhân và nông dân lao động, phải gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất. Một sự thật hiển nhiên không thể nào né tránh là mọi cố gắng cùng các biện pháp nhằm khắc phục mọi hậu quả trên theo sự chỉ đạo của đảng (hay nói đúng hơn là của Bộ Chính trị) đã không có hiệu quả và cuộc sống của đại bộ phận nhân dân ngày càng lún sâu vào nghèo khổ. Những con số khả quan cho nền kinh tế mà các báo đài đưa ra chỉ là những con số khống bởi vì đồng lương làm ra thì không đủ trang trải cho các nhu cầu tối cần trong cuộc sống: mọi sinh hoạt hàng ngày từ cái ăn cái mặc và chi tiêu đều phải tiết kiệm tối đa trong khi các mặt hàng nhu yếu phục vụ cho đời sống đều lên giá khi nhiều khi ít chớ không bao giờ đứng yên tại chổ. Tại sao những điều này xảy ra? Đương nhiên phải có nguyên nhân của nó, mà chắc chắn là do "nhân tai" chứ không thể là "thiên tai" được. Bằng tất cả lương tâm và lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, đặt niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước, chúng tôi xin trình bày thẳng thắn ra đây một số suy nghĩ, mong quý vị chịu khó lắng nghe. Việc đóng góp ý kiến này cũng phù hợp với điều 69 HP năm 1992 của nhà nước CHXHCNVN, cho nên không thể gán cho chúng tôi những cái tội vớ vẩn chiếu theo điều 88 hoặc điều 258….. của BLHS mà quý vị đã và đang áp dụng đối với những người tranh đấu ôn hoà trong thời gian qua.
Chắc quý vị cũng biết là trong thời đại văn minh ngày nay cùng với thông tin đa chiều từ các cơ quan truyền thông quốc tế và hệ thống Internet toàn cầu, tất cả những sự việc và tin tức mà đảng đã bịt kín không cho nhân dân biết, bây giờ nó đã được phơi bày ra ánh sáng ví dụ như: nhờ có phong trào học tập và noi gương theo đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh mà chúng tôi mới tìm hiểu kỹ và biết được chủ tịch Hồ Chí Minh đã có vợ là bà Tăng tuyết Minh bên Trung quốc trong thời gian ông hoạt động bên đó. Chúng tôi cũng biết khi làm chủ tịch ĐCSVN kiêm luôn chủ tịch nước VNDCCH trong thời gian 1956-1957 ông đã chung sống như vợ chồng với cô gái Tầy 22 tuổi Nông Thị Xuân và sinh ra được một đứa con trai đặt tên là Nguyễn Tất Trung mà hiện nay vẫn còn sống ở ngay thủ đô Hà Nội.
Riêng cái chết mờ ám của bà Nông Thị Xuân đã được ông Nguyễn Minh Cần (hiện đang sống ở Nga) là cựu phó chủ tịch Ủy ban Hành chánh Hà Nội thời đó tiết lộ cùng với lá thư của một thương binh là người yêu của cô Vàng gởi chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ năm 1983 về cái chết của cô Vàng có liên quan với bà Xuân.
Ngoài ra chúng tôi cũng biết luôn tác giả của những cuốn sách nổi tiếng ca ngợi về những thành tích, cuộc đời của chủ tịch Hồ Chí Minh là Trần Dân Tiên và T-Lan là do chính ông viết và tự đặt tên tác giả. Một điều làm đau lòng tuổi trẻ chúng tôi nhất là vào tháng 12/2007 khi bọn bá quyền Trung quốc xác nhập 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào huyện Tam Sa của chúng thì 14 con người trong Bộ Chính trị ĐCSVN được xem là "đỉnh cao trí tuệ" và các vị lãnh đạo cao cấp của chính quyền đã im hơi lặng tiếng.
Chưa hết, quý vị còn ra lệnh cho công an và quân đội đàn áp thô bạo, trù dập những thành phần sinh viên, trí thức và nhân dân đứng lên biểu tình chống Trung quốc xâm lược. Cũng qua vụ này chúng tôi mới biết được một chuyện động trời mà từ xưa qua các triều đại không có một ông vua nào dám làm, đó là công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/09/1958 đã công nhận Hoàng Sa - Trường Sa là của Trung quốc. Thật là oan uổng cho 64 chiến sĩ của Quân đội Nhân dân trên đảo Trường Sa đã chết trong cuộc hải chiến với Trung quốc năm 1988 mà đảng đã cố tình giấu kín. Ngoài ra, chúng tôi cũng còn biết thêm về cái chết oan uổng của hàng trăm ngàn người dân vô tội trong đợt cải cách ruộng đất vào những năm 1954-1956 ở miền Bắc, cũng như trên 5000 xác chết của người dân vô tội tại Huế được quân đội giải phóng của đảng giết trong tư thế bị còng trói rồi chôn trong các mồ chôn tập thể tại Khe Đá mài năm 1968. Sau tháng 4 năm 1975, thế hệ cha anh của chúng tôi đã được nghe quý vị ra rả tuyên truyền rằng “Tổng thống Thiệu đã mang 16 tấn vàng của quốc gia ra nước ngoài để làm của riêng”, nhưng thực tế là ông Thiệu không có mang đi mà mà số vàng đó đã được nhân viên kho bạc của chế độ VNCH giao lại cho Uỷ ban quân quản của chính quyền Cách mạng lâm thời khi đó (báo Tuổi Trẻ đã xác nhận như thế trong loạt bài “vàng đổi chủ[1]” được đăng trong tuần lễ từ ngày 25/4 đến 2/5 năm 2006). Và còn hằng hà sa số những chuyện đau buồn khác mà nhân dân phải cam chịu trong suốt thời gian qua dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, mà chúng tôi cũng không cần dài dòng kể ra đây. Những điều xảy ra chung quanh chúng tôi đã khiến chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi, mà lắm khi chính nó cũng là câu trả lời, chẳng hạn như: Hoàng Sa, Trường Sa và Ải Nam Quan bây giờ có còn là của đất nước Việt Nam không?”. Tại sao lịch sử thường ca ngợi những người can đảm chống quân xâm lược mà ngày nay công an lại đàn áp và kết tội những người biểu tình chống Trung quốc xâm lăng?. Tại sao Đảng thường hô hào thực thi quyền dân chủ mà lại bắt bỏ tù những người tranh đấu ôn hoà cho quyền dân chủ?, Tại sao trong lớp học thầy giáo dạy môn Toán phải qua dạy môn Kỷ thuật nhưng các thầy tốt nghiệp môn kỷ thuật thì lại thất nghiệp không có trường để dạy?, Tại sao lại có số đông người dân oan đi khiếu kiện?, Tại sao những người lính chết trong chiến tranh đánh “Mỹ-Nguỵ” thì hàng ngày được ca tụng như là anh hùng, còn những chiến sĩ chết trong chiến tranh biên giới với Trung quốc năm 1979 và ngoài hải đảo thì không được ca tụng?. Tại sao công an đàn áp các sinh viên biểu tình chống bọn bá quyền Trung quốc nhưng lại bảo vệ những người Trung quốc biểu tình ủng hộ quần đảo HS và TS là của Trung quốc ngay trên đất nước của mình?. Tại sao những người có bằng cấp chuyên tu và tại chức thì không thất nghiệp còn những người tốt nghiệp với bằng cấp chính quy đàng hoàng thì lại không có chổ làm đúng với khả năng?, Tại sao thầy giáo dạy môn lịch sử dạy rằng: Mỹ là kẻ thù không đội trời chung với nhân dân ta, còn Trung quốc là anh em rất tốt của ta, nhưng hôm nay các nhà lãnh đạo của ta lại cầu viện Mỹ giúp đỡ, còn Trung quốc thì lại chiếm đất của ta lại còn xâm lấn đất đai lãnh hải của ta nữa?. Tại sao các nước theo thể chế đa nguyên tư bản lại giàu có hơn các nước theo chủ nghĩa CS?. Tại sao lúc trước đảng nói những người vượt biên là phản quốc, còn bây giờ đảng nói là yêu nước?. Tại sao mang tiếng quân đội và công an là của nhân dân nhưng lại phục vụ hết mình cho quyền lợi của đảng?. Tại sao trong tất cả các thành phần lãnh đạo của đất nước từ dưới lên trên đều phải là đảng viên?. Ttại sao người giàu bây giờ đa số là đảng viên, là cán bộ chính quyền và những người có thân nhân là Việt kiều?. Tại sao luật pháp cho quyền tự do ứng cử nhưng trên thực tế phải qua sự sàng lọc và chấp thuận của Mặt trận Tổ quốc của đảng?. Tại sao nhân dân phải bầu cử những người mà mình chưa lần biết mặt?. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam khác nhau như thế nào mà trên báo chí và tivi lại chửi bới Hoà thượng Thích Quảng Độ quá nặng lời như thế?. Tại sao công nhân của ta đi lao động nước ngoài bị chủ bóc lột, bị đối xử tàn nhẫn phải nhờ cơ quan cứu người lao động của Việt kiều ở nước ngoài bênh vực, còn chính quyền VN của đảng thì im lặng?. Tại sao đất nước mình không có báo chí tư nhân như các nước khác?..v.v… Tại sao và tại sao??? Loanh quanh với những câu trả lời mà chung quy cũng chỉ tại vì độc đảng mà ra. Trọng tâm của bài viết này là muốn quý vị thấy rằng "hậu sinh khả úy" chứ không thể khả ố được. Tức là chúng tôi hiểu và biết và hiểu rất rõ nữa là khác, về những chuyện đang xảy ra chung quanh chúng tôi. Do đó, chúng tôi chỉ muốn quý vị thay đổi tư duy và phải thực thi quyền tự do ngôn luận và quyền dân chủ tối thiểu cho người dân trong một đất nước là thành viên của WTO, của ASEAN, của các công ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, của LHQ và cũng là đương kiêm chủ tịch luân phiên của Hội đồng Bảo an LHQ. Tất cả những gì mà chúng tôi trình bày cũng chỉ vì tương lai của đất nước và lợi ích chung của toàn dân. Chúng tôi rất tâm đắc vào lời phát biểu của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại Mỹ: /“BấT đồNG CHíNH KIếN Là CHUYệN BìNH THườNG”/. Chúng tôi cũng không quên câu nói của thủ tướng Nguyễn tấn Dũng trong kỳ trả trời trực tuyến: /“YêU NHấT, THíCH NHấT Là TRUNG THựC Và GHéT NHấT, GIậN NHấT Là GIả DốI”/. Chúng tôi cũng nhớ lời nói của cựu thủ tướng Võ văn Kiệt: /“đấT NướC VN Là CủA CHUNG, KHôNG PHảI CủA RIêNG ĐCSVN, Có HàNG TRăM CON đườNG YêU NướC KHáC NHAU”/. Tuy nhiên, chúng tôi rất tiếc khi trong nước những chuyện xảy ra hàng ngày đều trái ngược lại những lời tuyên bố đó. Nhìn lại các chặng đường lịch sử của đất nước kể từ khi ĐCSVN lãnh đạo, chúng tôi cũng không phủ nhận công lao của quý vị đối với đất nước, nhưng chúng tôi cần phải nêu ra những điều sau đây để rộng đường cho dư luận khách quan phán xét, đồng thời cũng để cho quý vị bình tâm suy xét lại những việc làm của mình để sau này quý vị nói riêng và ĐCSVN nói chung còn có tiếng nói trong lòng dân tộc:

1 Chắc quý vị cũng công nhận với chúng tôi rằng: Trước năm 1975 mặc dù bị chiến tranh tàn phá, nhưng cuộc sống và mọi quyền tự do của nhân dân miền Nam vẫn hơn nhân dân miền Bắc rất nhiều. Đặc biệt miền Nam lúc đó còn là một con rồng của Đông Nam Á, hơn hẳn Thái Lan, Nam Hàn, Indonesia và Malaysia. Còn bây giờ thì sao?

2. Hơn 3 triệu người VN bỏ nước ra đi với 2 bàn tay trắng, chấp nhận vai trò phản động mà quý vị đã từng gán ghép. Nhưng hôm nay những người Việt lưu vong “phản động” này đã có cuộc sống đầy đủ tự do, hạnh phúc đa số đều thành công và lại còn gởi tiền về cho thân nhân thoát nghèo cũng như đích thân về VN làm các công tác từ thiện. Các chùa chiền, nhà thờ trong nước nếu không có tiền của Việt kiều hải ngoại sống trong các nước đa đảng tiếp sức thì có được khang trang và hoành tráng như bây giờ không? Giả sử nếu số Việt kiều của chúng ta mà vượt biên qua các nước theo thể chế Cộng sản thì ngày nay họ có được như thế không?. Chúng tôi tin chắc rằng nếu quý vị đi đúng hướng với con đường tiến bộ của đa nguyên thì số người Việt thành tài ở hải ngoại sẽ trở về xây dựng quê hương, trong tương lai đất nước VN sẽ thực sự là con rồng của Châu á. Quý vị cũng không phải bỏ công sức ra để đi vận động hoặc xin viện trợ nơi xứ người. 3. Một sự thật hiển nhiên là khi quý vị cho con cái đi du học ở nước ngoài thì quý vị vẫn chọn các nước tư bản đa nguyên để cho con của mình học.

4. Chắc quý vị cũng công nhận rằng trên thế giới chỉ có làn sóng người dân bỏ nước từ chế độ Cộng sản qua các nước tư bản đa nguyên, chớ không có chuyện ngược lại.

5. Một điều không ai chối cải là các nước theo chủ nghĩa CS nếu muốn phát triển thì cũng phải nhờ vào sự giúp đỡ và cách thức làm ăn của các nước tư bản đa nguyên.

6. Tại các nước dân chủ đa nguyên thì chủ nghĩa Marx-Lenin chỉ là môn học để cho sinh viên nghiên cứu chớ không phải là bắt buộc như ở Việt Nam. Con người sinh ra thì bắt buộc phải lớn lên theo thời gian, sự tiến bộ cũng phải theo thời gian phát triển không ngừng. Nhưng nếu chúng ta không muốn mình lạc hậu thì luôn luôn phải có sự cạnh tranh để theo kịp nền văn minh của thế giới, do đó CNCS cố hủ đã không còn phù hợp với nhân loại nữa.
Vì vậy cho nên ở những nước mà trước đây là thiên đường của CNCS như Liên Sô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Ðức và cả khối đông âu đồng loạt phải thay đổi tư duy theo hướng đa nguyên, tức là phải cho người dân có mọi quyền tự do căn bản về ngôn luận, lập hội, biểu tình, ứng cử và bầu cử, quyền tham gia các đảng phái chính trị, quyền tự do tín ngưỡng và báo chí tư nhân. Dân chủ, nhân quyền phải được áp dụng cho tất cả mọi người và mọi quốc gia trên thế giới, không thể hiểu theo sự hạn hẹp là dân chủ, nhân quyền của quốc gia này khác với quốc gia khác.
Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của LHQ và các Công ước Quốc tế về Quyền dân sự, chính trị đã được chính phủ quý vị công nhận ký kết là một bằng chứng. Nếu trong một nước mà sự điều hành của 3 cơ quan: Lập pháp (cơ quan làm ra luật đại diện cho mọi thành phần dân chúng trong xã hội) và cũng là những tiếng nói mạnh để bênh vực cho quyền lợi của nhân dân; Hành pháp (gồm nội các và các cơ quan của chính quyền) có nhiệm vụ thi hành đúng luật pháp; và Tư pháp (cơ quan toà án có nhiệm vụ xét xử bất cứ ai vi phạm pháp luật) đều hoạt động độc lập với nhau cộng thêm quyền tự do báo chí, thì tất cả sẽ là nền móng vững chắc để thực thi quyền dân chủ của toàn dân. Với quyền tự do ứng cử thì những người tài có tâm huyết mới có điều kiện thi thố khả năng của mình Với quyền tự do bầu cử thì nhân dân mới có đủ điều kiện để lựa chọn người tài phục vụ đất nước để đại diện cho mình, người được nhân dân tín nhiệm nếu muốn tồn tại thì bắt buộc phải làm tốt và càng làm tốt thì sự tín nhiệm của người dân càng lâu. Với quyền tự do báo chí thì người dân mới có diễn đàn để lên tiếng và quyền giám sát của nhân dân đối với các cơ quan chính quyền mới được thực thi đúng mức. Với quyền tự do thành lập các đảng phái, các hội đoàn thì người dân mới được tự do đi theo những đường hướng hợp với ý nguyện của mình. Dưới chính thể đa nguyên thì số người thời cơ vụ lợi, bất tài, tham nhũng bè phái, độc tài độc đoán sẽ không có đất để dung thân, mọi ý kiến của nhân dân mới được chính quyền tôn trọng và không dám xem thường. Dĩ nhiên thể chế đa nguyên không phải là tốt đẹp nhất, nhưng nó sẽ là thể chế giới hạn tối đa sự độc tài độc đoán, tham nhũng và bè phái của chính quyền mà đại đa số các nước trên thế giới đang theo và đang thành công. Nhiệm vụ của quân đội và công an, cảnh sát là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ đất nước và hạnh phúc cho toàn dân chớ không phải bảo vệ cho đảng đang nắm chính quyền. Mọi việc trên đời này đều phải phát xuất từ nguyên nhân rồi mới đi đến kết quả, chẳng hạn như: quý vị có bao giờ nghĩ rằng những người mà quý vị cho là vượt biên phản quốc sau khi chiếm được miền Nam, ngày nay lại là những người yêu nước, là khúc ruột ngàn dậm của tổ quốc VN. Quý vị có bao giờ nghĩ rằng: đế quốc Mỹ kẻ thù không đội trời chung với quý vị, thì ngày nay chính quý vị lại nhờ họ ra tay giúp đỡ cũng như đưa con cái của quý vị đi qua đó để du học. Quý vị có bao giờ nghĩ rằng chính Trung quốc một đất nước mà quý vị thường tôn vinh là bạn tốt , là vĩ đại thì ngày nay lại là đất nước bá quyền xâm lăng chúng ta.
Quý vị có bao giờ nghĩ rằng CNCS lại hoàn toàn sụp đổ ở Liên Sô và cả khối Ðông Âu khiến cho giấc mộng thế giới đại đồng của ông tổ Marx-Lenin phải tan tành theo mây khói. Quý vị có bao giờ nghĩ rằng tất cả những bí mật mà quý vị cố tình giữ kín thì ngày nay lại được phơi bày ra ánh sang. Đó chẳng qua là nguyên nhân của đường lối sai lầm triền miên của đảng hay nói đúng hơn là của quý vị gây ra, và chúng tôi tin rằng rồi đây khi mà các chiến sĩ quân đội, công an những con người của nhân dân đang trung thành với đường lối lãnh đạo của quý vị sẽ nhìn ra được sự thật, lúc đó họ sẽ không còn nghe theo quý vị để đàn áp các thành phần đấu tranh cho lẽ phải và điều này chắc chắn sẽ xảy ra cũng như nó đã từng xảy ra ở Liên sô, Ba Lan, Tiệp Khắc,…
Khoa học ngày nay cũng đã chứng minh được con người có kiếp trước và kiếp sau xuyên qua những việc làm thiện và bất thiện. Cuộc sống của con người thì trùng trùng duyên khởi, những gì mà con người đang hưởng thụ ở hiện tại cũng là cái nhân duyên đã tạo ra ở quá khứ, tương tự như thế tất cả những việc làm thiện và bất thiện ở đời này cũng sẽ là nhân duyên cho đời sống của tương lai, công hầu danh lợi hoặc giàu sang tột đỉnh bất quá cũng chỉ hưởng được lúc còn sống mà thôi.

Hoà thượng Thích Huyền Quang khi còn sống Ngài có nói rằng: /“CHế độ NàO CũNG NóI MUôN NăM, NHưNG THử HỏI Từ XưA TớI GIờ Có CHế độ NàO đượC MUôN NăM đâU. PHậT GIáO KHôNG NóI MUôN NăM NHưNG đã TồN TạI TRêN đấT NướC VN HơN 2000 NăM RồI”/. Chúng tôi rất mong quý vị, những con người lãnh đạo tối cao của ĐCSVN cũng như của đất nước VN hãy vì tổ quốc vì nhân dân như quý vị thường tuyên bố, chấp nhận thay đổi tư duy để đi theo đa nguyên, đa đảng mà đa số các nước trên thế giới đang đi và đang thành công, đó cũng là ý muốn chung của toàn dân. Nếu không tin xin quý vị thử mạnh dạng mở ra cuộc TRƯNG CẦU DÂN Ý để cho toàn dân tự do chọn lựa. Chúng tôi luôn luôn mong muốn rằng sự thay đổi tư duy của quý vị sẽ mở ra trang sử mới vô cùng tươi sáng cho đất nước, và ĐCSVN sau này cũng sẽ là một trong những thành phần chính trị của đất nước cùng với toàn dân chung lo xây dựng quê hương trong tinh thần hoà giải và đoàn kết. Nếu được như thế thì đây là cái phúc rất lớn cho đất nước và nhân dân Việt Nam.
Mong thay!
Thân ái chào quý vị
Sài Gòn, ngày 3/08/2008
Hương Trà (Sinh viên Luật) cùng nhóm bạn trẻ
(Email: huongtra13@gmail.com[2]) /*

TB: Sau bài viết "Tuổi trẻ Việt Nam phải làm gì cho đất nước hôm nay?[3]", Hương Trà đã nhận được rất nhiều khích lệ của các bạn đọc trong và ngoài nước, và đương nhiên trong số đó cũng có những email có tính cách "thăm dò tung tích"./ /Do đó, để giữ an toàn, Hương Trà không thể email hồi âm tất cả được. Nhất định Hương Trà sẽ có dịp cám ơn tấm lòng yêu thương của quý ông bà, cô chú, anh chị và các bạn./Links:------[1] http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=135236&ChannelID=89[2] mailto:huongtra13@gmail.com[3] http://tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6077&mode=&order=0&thold=0

Wednesday, July 23, 2008

Hà Nội Đang Muốn Vực Cái Nghị Quyết Chết Yểu 36 Sống Lại

a.. Ngô Văn

Nghị quyết 36-NQ/TƯ được bộ Chính trị đảng CSVN cho ra đời cách đây hơn 4 năm (23/6/2004) với mục đích gây phân hóa, tạo chia rẽ trong Cộng đồng người Việt hải ngoại hầu mong làm tản lực đấu tranh của người Việt tị nạn. Nói cho ngay, trong mấy năm trời cái nghị quyết này cũng có lôi kéo được một số người nhẹ dạ, cả tin chạy theo. Nhưng trên tổng thể thì nó chẳng tác hại gì được nhiều, bằng chứng là sức đấu tranh của Cộng đồng người Việt hải ngoại ngày càng mạnh trong việc vận động dư luận thế giới, các quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế áp lực lên chính quyền Hà Nội bắt phải tôn trọng nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do phát biểu ý kiến..., ngoài ra còn tích cực xuống đường biểu tình phản đối mỗi khi lãnh đạo đảng CSVN đi ra nước ngoài ngửa tay xin viện trợ, kêu gọi đầu tư... Họ đi đến đâu là bị đồng bào hải ngoại bao vây đến đỏ để lật tẩy, không cho tiếp tục tuyên truyền láo khoét thêm nữa với dư luận thế giới.Hơn ai hết, những người lãnh đạo đảng CSVN biết rằng nghị quyết 36 đang bị người Việt hải ngoại vô hiệu hóa nên đang tìm cách vục nó dậy. Ngày 11 tháng 7 năm 2008, Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt nước ngoài là ông Nguyễn Thanh Sơn họp báo nói rằng Ủy ban sẽ quyết tâm xóa tình trạng "vùng trắng, vùng trống" trong hoạt động kiều bào VN ở mọi vùng đất trên thế giới. Đây là một kế hoạch dài hơi, đòi hỏi sự bền bỉ và kiên trì. Trước mắt Ủy ban đã yêu cầu các cơ quan đại diện ngoại giao (của chính quyền CS) Việt Nam ở các nước thu thập số liệu và tìm hiểu về cộng đồng người VN tại nước sở tại, để đưa ra chương trình cụ thể. Một số hoạt động sắp tới dành cho kiều bào như trại hè VN 2008 có thể có 84 thanh thiếu niên Việt kiều từ khắp các quốc gia trên thế giới tham dự, đưa đoàn kiều bào yêu nước về thăm quê hương nhân dịp “Quốc kháng” 2.9 (của VC), cầu truyền hình Tết Kỷ Sửu dành cho kiều bào. Ông Sơn còn cho biết thêm là hồi tháng 6 vừa rồi nhà nước đã ban hành chỉ thị 19/2008/CT-TTg nhằm tạo động lực mới và bước đột phá trong việc triển khai thực hiện chương trình hành động của nhà nước về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Trong đó, yêu cầu trọng tâm là các bộ, ban ngành và địa phương phải nhận thức, xác định công tác đối với Việt kiều là "trách nhiệm của mình", nhằm khắc phục khó khăn của tình trạng trên thông, dưới thoáng tồn tại lâu nay. Chỉ thị 19 CT-TTg còn yêu cầu phát huy tiềm năng trí thức và kinh tế của Việt kiều đóng góp vào sự phát triển đất nước. Thủ tướng CSVN đã yêu cầu các bộ, ban, ngành và địa phương, trước ngày 30/9/2008 tiến hành rà soát, đề xuất kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành quy định mới đáp ứng nguyện vọng chính đáng nhằm phát huy tiềm năng trí thức và kinh tế của kiều bào, thành lập Hiệp hội doanh nhân kiều bào. Chỉ có thay đổi tư duy, công tác kiều bào mới có được những thay đổi. Trước đây, ông Sơn đã từng nói là nếu so sánh một cách hình tượng thì cộng dồng trí thức kiều bào như là một kho báu lộ thiên. Chúng ta không mất công tìm kiếm nữa mà phải làm sao tiếp cận.Còn theo ông Tạ Nguyên Ngọc, Vụ trưởng vụ Quan hệ kinh tế Khoa học và Công nghệ của Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngoài thì không phải cơ quan nào, địa phương nào cũng có cơ quan chuyên trách về vấn đề này khiến cơ chế hoạt động đôi khi không hoàn thiện (sic!). Ngoài ra, nhiều khi các bộ, ngành và địa phương coi nhiệm vụ trên là trách nhiệm riêng của Uỷ ban Người Việt ở nước ngoài, khiến một số hoạt động, tâm tư, nguyện vọng của kiều bào khi về nước bị chậm lại. Điều quan trọng trong công tác kiều bào là tư duy. Chẳng hạn như bộ Kế hoạch-Đầu tư cần thông thoáng hơn trong quyết định cấp phép đầu tư cho các dự án của kiều bào.Về phía bộ Ngoại giao CSVN thì cho hay cuối tháng 6/2008, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã ký một quyết định cho thêm 20 tỷ đồng vào quỹ Bảo hộ công dân và Pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài với hy vọng sẽ giúp cho Ủy ban về người Việt nước ngoài có thêm phương tiện hoạt động.Với chính sách độc tài đảng trị như hiện nay thì có bao nhiêu cái Nghị quyết cũng chẳng đánh lừa được ai, có vực cái Nghị quyết 36 đang chết yểu dậy cũng vô ích, nhưng mấy ông trong bộ Chính trị dảng CSVN vẫn muốn làm vì quá tức giận chuyện Cộng đồng người Việt hải ngoại biểu tình chống đối mỗi khi mấy ổng thò đầu ra nước ngoài.Người Việt hải ngoại trước sau gì cũng phải ra tay, thôi thì lần này ráng thêm chút nữa để cho cái Nghị quyết 36 này nó chết luôn cho rồi, thưa phải không quý độc giả.
Ngô Văn

Sunday, July 13, 2008

Le Nhap Bao Thap Duc De Tu Tang Thong THICH HUYEN QUANG tai Tu vien Nguyen Thieu

Kinh chuyen den quy vi nhung hinh anh Le Nhap Bao Thap Duc De Tu Tang Thong THICH HUYEN QUANG tai Tu vien Nguyen Thieu - Binh Dinh
moi vao => http://www.phatgiaodaichung.com/Sum2008/001Hinhanhnhapbaothap.htm

Kinh chuc quy vi duoc suc khoe & an vui!