Thursday, February 26, 2009

Đời Đời Nhớ Ơn quân cướp nước?
(Ngô Nhân Dụng)

Tôi đi thăm La Phù Sơn ở tỉnh Quảng Ðông vào đầu Tháng Hai 2009. Trong sân trước Xung Hư Cổ Quán, một ngôi đền theo Ðạo giáo rất đông đảo khách thập phương, với những lư thắp nhang khổng lồ nghi ngút khói, một người Trung Hoa tò mò hỏi chúng tôi người nước nào. Khi biết chúng tôi là người Việt Nam, anh ta đã lớn tiếng nói, như giải thích cho những người Trung Hoa đứng chung quanh cùng nghe. Tôi nghe lỏm bõm, nhưng biết anh muốn nói rằng họ nên “hữu hảo” với ông già người Việt này. Vì các nước Miến Ðiện, Cao Ly, và Việt Nam cùng với Trung Quốc, bốn nước thực ra chỉ là một nước mà thôi, tất cả cũng như là đồng bào! Anh có dáng điệu mạnh bạo, quả quyết khi đưa tay giảng cho những người đang xúm lại lắng nghe. Nhưng khi nhìn tôi anh có đôi mắt sắc khiến tôi cảm thấy rờn rợn.

Ðúng là vào đời Ðường thì nước ta, Hàn Quốc, Tây Tạng, có lúc đã được nhập vào nước Trung Hoa hàng mấy thế kỷ. Nếu không có Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền, nếu không có Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, thì có thể biên giới Trung Quốc bây giờ lan tới tận Pleiku và Hà Tiên hoặc Xiêm Rệp! Người Quảng Ðông đã từng lập vương quốc Nam Việt khi văn hóa của họ còn khác hẳn người Hán, nhưng bây giờ họ hãnh diện là con dân của Trung Quốc. Nước Ðại Lý cũng là một quốc gia hùng cường, độc lập, cho tới thế kỷ 12 bị quân Mông Cổ xâm chiếm, từ đó người Bạch trở thành người Tầu. Nhưng rất khó giải thích cho người Trung Hoa hiểu rằng dân Việt Nam đã độc lập từ thế kỷ thứ 10, và nhóm người Việt này không bao giờ muốn được hơn một tỷ người Trung Quốc coi là đồng bào cả.

Mười năm trước, tôi đã có lúc thấy cảm giác rợn người giống như vậy, trong một chuyến đi thăm Quế Lâm. Một cô hướng dẫn địa phương đón chào nhóm du khách chúng tôi cũng hỏi thăm mọi người từ nước nào tới. Sau khi cho biết cả đoàn gốc đều là người Việt Nam, mắt cô sáng lên. “Việt Nam?” Cô hỏi, phát âm theo tiếng Việt chứ không gọi là “Duế Nàn” theo tiếng Tầu. Xác nhận rồi, cô bèn nhoẻn miệng cười rất tươi và cất tiếng hát, bằng tiếng Việt: “Việt Nam, Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông!” Giọng ca cô rất tốt và hát đúng giai điệu, phát âm tiếng Việt rõ từng chữ!

Nghe câu hát đầy thiện cảm của cô gái xinh đẹp và lịch duyệt đó, tôi cảm thấy ớn lạnh dọc đường xương sống. Nghe hãi thật. Núi liền núi, sông liền sông, đi mấy bước là tới! Có lẽ tôi thuộc loại người dễ xúc động quá nên mới có phản ứng như vậy. Nhưng có lẽ nhiều người Việt cũng sẽ cảm thấy thế sau mấy ngày đi qua các thành phố ở nước Trung Hoa thấy họ đầy những người là người, người đi nờm nợp, người bước ào ào, chen chân nhau trên lề đường, lách tránh nhau trên xa lộ, đông người quá. Và sau khi đã chứng kiến cảnh muôn ngàn người Trung Hoa làm việc, buôn bán, rán dầu cháo quẩy, đẩy xe, rao hàng, mặc cả, tiêu thụ, ăn uống trong nhà hàng, cười nói oang oang, ca hát, nhẩy múa, tập Thái Cực quyền khắp các chỗ đất trống ngoài công viên, bên bờ hồ, ngay ngã tư đường, khắp nơi. Ai cũng phải cảm thấy nước họ lớn quá, dân họ mạnh quá, và đông người quá, cảm thấy điều đó ngay trong da trong thịt muốn tức thở của mình! Nghĩ đến nước Việt Nam mình thì thấy người mình ít, dân lại nghèo, kinh tế cònchậm tiến hơn họ rất nhiều. Khi tai nghe một người Trung Quốc hát câu “núi liền núi, sông liền sông” đúng giọng y như người Việt, thấy hãi quá! Giá như có thêm núi, thêm sông ngăn cách xa hơn một chút, thì chắc yên tâm hơn!

Tôi đoán nếu có người Việt Nam nào sang Campuchia mà hát một bài đại ý, “Việt Nam, Cam Bốt, núi liền núi, sông liền sông” thì nhiều người Campuchia nghe cũng sẽ cảm thấy lạnh gáy, tự hỏi những người Việt này có “ý đồ” gì!

Khi Hồ Chí Minh còn sống, đảng Cộng Sản Việt Nam thân thiện với Cộng Sản Trung Hoa cho nên đã có những bài hát ca ngợi mối tình “trước là đồng chí, sau là anh em” giữa hai đảng, rồi kéo cả nước Việt Nam vào làm anh em hữu hảo với Trung Quốc luôn, di hưởng đến bay giờ.

Trong bài hát của Ðỗ Nhuận có những câu thân thiện, nghe còn rợn người hơn nữa: Bên sông tắm cùng một dòng - Tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây - Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng. Á a! Chung một ý, chung một lòng - Ðường ta đi rực mầu cờ cách mạng. Á a, nhân dân ta ca muôn năm: Hồ Chí Minh, Mao Trạch Ðông!”

Thử tưởng tượng người dân Việt ở Thanh Hóa hay Pleiku mà hát Á a như điệu Hồ Quảng, rồi nghĩ mình có ngày “tắm cùng một dòng sông” và “sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy” cùng với các đồng chí Trung Quốc ở Quảng Ðông, thì cũng hãi thật! Nếu tránh được thì ai cũng cố tránh! Bây giờ đảng Cộng Sản Trung Quốc dù không theo chủ nghĩa nào thì chắc họ cũng không bỏ ý muốn “núi liền núi, sông liền sông!”

Tôi xin xác nhận trong lòng không nuôi mối thù oán nào đối với người Trung Hoa. Trái lại, đi thăm đất nước họ nhiều lần, chỉ vì tôi rất yêu văn hóa Trung Hoa, từ ông Khổng Tử đến các ông Ðỗ Phủ, Lý Bạch, Tô Ðông Pha, cũng như Chiêu Quân, Thúy Kiều. Trong chuyến đi vừa rồi tôi đã “gặp lại” Tô Ðông Pha ở Tây Hồ thành phố Huệ Châu, ở cây cầu Hội Tiên Kiều bên cạnh hồ Bạch Liên ở La Phù Sơn. Cả trong đường hầm với những hang động đào xuyên ngọn núi này, nơi các sư tổ đời xưa luyện công phu và thiền quán, cũng có tượng Tô Ðông Pha nữa! Mỗi lần, lại thấy như gặp cố nhân từ nhiều kiếp trước!

Nhưng người Việt Nam quý mến văn hóa Trung Hoa đến đâu cũng không quên được là phải giữ mình, không nên bất cẩn, nếu không dân mình sẽ thành dân Trung Quốc hết. Và khi chìm trong cái nước vĩ đại đó, cả dân tộc mình sẽ thành một nhóm thiểu số, một nhóm rất nhỏ, giống như người Hồi, người Bạch, người Choang, người Tây Tạng vậy.

Nhiều người Việt Nam thán phục nền văn minh Trung Hoa, chúng ta đã học hỏi được rất nhiều và sẽ còn học thêm nhiều nữa. Nhưng trên mặt chính trị, ngoại giao, thì không người Việt Nam nào không dè dặt, lo ngại khi nghĩ đến chuyện phải đối đầu với quốc gia vĩ đại này.

Một điều nguy hiểm là chính quyền nước đó hiện giờ là một nhà nước độc tài, họ không chịu trách nhiệm với dân chúng. Họ có thể hy sinh dân họ, vì những lý do không ý nghĩa, không bổ ích, mà không lo sẽ bị dân bỏ phiếu bất tín nhiệm. Thí dụ như cuộc chiến tranh Trung Việt năm 1979. Ðặng Tiểu Bình xua quân sang đánh Việt Nam, san thành bình địa những thành thị, những xóm làng, nhiều lần giết tập thể hàng trăm thường dân, chỉ vì muốn dậy cho đảng Cộng Sản Việt Nam một bài học về tội vong ân. Cuộc chiến kéo dài hai, ba tuần làm chết hàng chục ngàn người mỗi bên, cuốicùng không ích lợi gì cho nước Trung Hoa cả. Nhưng không một người Trung Hoa nào dám tỏ ra bất đồng ý kiến với nhà lãnh tụ cộng sản.

Ðứng ở địa vị người dân Trung Hoa thì nếu nước họ không do một đảng độc tài cai trị, nếu họ có quốc hội độc lập để kiểm soát Hành pháp, nếu có báo chí tự do phê phán nhà nước, thì chắc bao nhiêu binh lính của họ không phải bỏ mạng ở Việt Nam vào năm 1979, những cai chết vô ích. Cái hại của những chế độ độc tài là như thế. Cho nên trong lịch sử không thấy những nước theo chế độ dân chủ tự do lại gây chiến với nhau. Khi người dân được quyền phán xét và quyết định thì bao giờ dân cũng tìm cách tránh chiến tranh.

Cái hại của chế độ độc tài ở Việt Nam cũng giống hệt như ở Trung Quốc. Tại sao Ðặng Tiểu Bình muốn dậy Cộng Sản Việt Nam một bài học? Vì Lê Duẩn đã vong ân đối với Cộng Sản Trung Quốc thật. Sau bao nhiêu năm được Bắc Kinh viện trợ từ cây đinh, từ sợi chỉ đến nắm cơm sấy nuôi quân để xâm chiếm miền Nam Việt Nam, Lê Duẩn đã quay ngược lại, suy tôn Liên Xô là tổ quốc thứ hai, đoạn giao đến mức ghi vào hiến pháp gọi Trung Quốc là một kẻ thù truyền kiếp! Ðó là nguyên nhân chính gây ra tất cả những xung đột giữa hai nước sau đó, kể cả cuộc xâm lăng năm 1979. Nếu Việt Nam được sống trong một chế độ tự do dân chủ thì người dân không bao giờ cho phép chính quyền có những chính sách ngoại giao dại dột như vậy. Gây thù hận và làm mất thể diện một quốc gia lớn láng giềng là điều không thể tưởng tượng nổi. Một chính quyền độc tài đảng trị, khi họ chỉ cần theo ý đảng không cần hỏi đến ý dân, mới có những quyết định điên rồ, để đưa tới một cuộc chiến tranh tàn hại như cuộc chiến Việt Hoa vào Tháng Hai năm 1979.

Một điều đáng kinh ngạc là cũng chính đảng Cộng Sản Việt Nam đó, bây giờ lại đổi thái độ quay ngược chiều, không những kết thân với Trung Quốc mà còn hoàn toàn thần phục, quỵ lụy đến mức lố bịch đối với nước đàn anh cộng sản. Có chứng cớ hiển nhiên.

Ngày hôm qua trên Nhật Báo Người Việt đã đăng tin về cảnh những người Việt được dẫn đi thăm nghĩa trang “Long Châu, Thủy Khẩu Trung-Việt Liệt Sĩ Mộ Viên,” nơi chôn những người lính Trung Quốc chết khi sang đánh Việt Nam, và những người lính Việt Nam bị thương và bị bắt mang về Trung Quốc rồi chết ở đó nhưng không được trả xác về quê hương mình.

Chúng ta kính trọng những tử sĩ hy sinh vì quốc gia của họ, người Việt hay người Trung Quốc cũng thế. Dù họ làm theo lệnh chế độ nào chỉ huy, họ đều xứng đáng được tưởng niệm và ai điếu. Những ai đến biên thùy Pháp Ðức, đi thăm nghĩa trang chôn tử sĩ của hai đạo quân thù nghịch qua bao trận chiến tranh, đều có thể đến nghiêng mình trước những người lính đã hy sinh cho tổ quốc của họ.

Nhưng người Việt Nam khi đến thắp hương trên mộ những tử sĩ của quân đội Trung Quốc có thấy mình phải tỏ lòng “biết ơn” các chiến sĩ Hồng quân Trung Hoa đã sang đánh nước mình hay không? Chắc chắn là không.

Nhất là những người dân xã Ðề Thám, thuộc thị xã Cao Bằng. Hai thị xã Cao Bằng, Lạng Sơn đã bị quân đội Trung Quốc “làm cỏ” trong hai tuần lễ xâm lăng. Ðài phát thanh BBC mới kể chuyện bà Hoàng Thị Lịch, năm nay 72 tuổi, đã chạy trốn khỏi nhà ở huyện Hòa An, Cao Bằng khi quân Trung Quốc đánh, trước đây 30 năm. Bà cho biết, 18 ngày sau khi quân Trung Quốc phải rút về, họ đi qua vùng bà ở, và họ đã bắt 43 thường dân, gồm những đàn bà, trẻ con, người già không chạy được, đem chém giết hết. Ngày hôm qua Nhật Báo Người Việt đã in bức hình tấm bảng ghi lại cuộc thảm sát này, chôn dưới chân một bụi tre ở xã Hưng Ðạo, huyện Hòa An. Trong tấm bảng ghi nguyên văn là “Quân Trung Quốc xâm lược dùng cọc tre, búa bổ củi, đập chết 43 phụ nữ và trẻ em, quăng xuống giếng nước.” Cảnh tàn sát thường dân không phải chỉ xẩy ra ở xã Hưng Ðạo, huyện Hòa An. Nơi nào quân Trung Quốc đi qua trong cuộc xâm lăng năm 1979 đều có thể diễn ra những cảnh như vậy. Bên cạnh hình ảnh tấm bảng đó, hôm qua báo Người Việt in hình ảnh một vòng hoa ở nghĩa Trang Long Môn, với hàng chữ viết: “Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Xã Ðề Thám - Ðời Ðời Nhớ Ơn Các Liệt Sĩ Trung Quốc.”

Không tưởng tượng nổi! Nếu vì phép lịch sự khi viếng mộ, người ta có thể viết hai chữ “Kính Viếng” hoặc “Thương Xót” những người đã chết, dù họ từng là kẻ thù của dân tộc mình. Nhưng tại sao phải nói “Ðời Ðời Nhớ Ơn?” Ơn gì? Ơn cướp nước, ơn đốt nhà, phá cầu, phá đường, ơn tàn sát những thường dân vô tội hay sao?

Chúng ta biết rằng chính quyền một xã như xã Ðề Thám không bao giờ dám quyết định viết “Ðời Ðời Nhớ Ơn” những người lính Trung Hoa đã sang giết dân mình. Họ phải được lệnh của cấp trên. Hoặc ít nhất họ đã hỏi ý cấp trên trước khi đặt vòng hoa, và được khuyến khích viết những hàng chữ “Nhớ Ơn” như thế. Cấp trên nào? Cấp huyện? Cấp tỉnh? Không chắc những người ở những cấp này dám quyết định bắt dân chúng Việt Nam “Ðời Ðời Nhớ Ơn” những người lính đã đánh nước mình. Chỉ có những người chỉ huy trên cao nhất, là Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam mới có quyền quyết định những điều quan trọng như vậy. Họ quyết định như vậy để làm gì? Có phải cũng vì những lý do giống như khi họ cho các công ty Trung Quốc vào khai thác bauxite ở Việt Nam, mặc dù các chuyên gia người Việt đã yêu cầu ngưng để nghiên cứu lại ảnh hưởng trên môi trường, hay không?

Nhưng khi bán tài nguyên quốc gia cho nước ngoài một cách mù quáng thì cũng chỉ làm thiệt hại của cải vật chất mà thôi. Còn khi bắt người dân Việt Nam phải “Ðời Ðời Nhớ Ơn” những người lính Trung Quốc đã sang nước mình tàn sát người mình, thì đó là một hành đồng làm nhục cả một dân tộc, một mối nhục ngàn đời khó rửa sạch.

Giới lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc có muốn người Việt mình phải cúi đầu chịu một mối nhục tập thể hay sao? Nếu là những người có học, chắc họ không làm việc đó. Hay là chính những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam tự nguyện làm công việc nhục nhã này? Chỉ những người vô học mới có những hành động quỵ lụy ngu dốt như vậy.

Khi các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng đi Trung Quốc, không biết các ông ấy đã được giới lãnh đạo Bắc Kinh hứa hẹn những gì mà họ nhẫn tâm bắt dân Việt Nam phải “Ðời Ðời Nhớ Ơn” đám quân xâm lược giết thường dân vô tội đó? Họ có được tặng những biệt thự ở gần Trung Nam Hải để về nghỉ hưu (khi cần sống lưu vong) hay không? Bắc Kinh có yêu cầu Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam lập đền thờ để ghi công ơn của Toa Ðô, Liễu Thăng, nữa hay không? Những ông đó cũng là những “liệt sĩ Trung Quốc” vào thế kỷ 13 và 15, họ cũng bị tử vong trong các hoàn cảnh giống như những “liệt sĩ Trung Quốc” đánh nước ta năm 1979 vậy!

Một chính quyền do dân bầu cử tự do không bao giờ dám làm những việc nhẫn tâm làm nhục dân nước mình đến mức bắt dân phải Ðời Ðời Nhớ Ơn quân xâm lược. Chính quyền nào làm như vậy sẽ bị dân bỏ phiếu đuổi đi ngay. Vì không một dân tộc nào lại chấp nhận sống nhục nhã.


Tuesday, February 24, 2009

Tuyên bố 9 điểm của Khối 8406 về tình hình Việt Nam hiện nay

Kính gửi: đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

Đồng kính gửi: cộng đồng thế giới dân chủ.

Thành lập sau khi bản Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam được công bố trên toàn thế giới vào ngày 8-4-2006, Khối 8406 (tên gọi theo ngày này) là một tổ chức quần chúng đấu tranh gồm hàng chục ngàn người Việt Nam trong và ngoài nước, nhằm mục tiêu giành lại các quyền tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam bằng con đường hòa bình bất bạo động. Những quyền thiêng liêng này đã bị các thế hệ lãnh đạo trong Đảng cộng sản Việt Nam ngang nhiên tước đoạt của dân tộc trong suốt hơn 63 năm qua (2/9/1945 – tháng 2/2009).

Trong năm 2008 vừa qua, tình hình quốc tế đã trải qua rất nhiều biến động, có ảnh hưởng lớn đến tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng,… của Việt Nam.

1) Về kinh tế:

+ Lạm phát gia tăng, sản xuất và dịch vụ đi xuống, đời sống của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam gặp khó khăn chồng chất. Nhiều người lao động bị mất việc làm và không còn thu nhập. Việt Nam lại chẳng có hệ thống an sinh xã hội để bảo đảm mức sống tối thiểu cho người thất nghiệp, cho những kẻ nghèo không nơi nương tựa. Họ đã và đang bị bần cùng hóa một cách thê thảm.

+ Tình trạng khốn khổ này không những xảy ra với dân thường mà còn với cả những người ngay chính, không chịu làm trái lương tâm trong hệ thống công quyền, kể cả trong lực lượng công an và quân đội. Tất cả họ - vốn chiếm đa số trong xã hội - đều thuộc tầng lớp bị trị mà quyền lợi đã và đang bị một thiểu số thống trị trong bộ máy cầm quyền ở Việt Nam hôm nay tham muốn nuốt trọn.

+ Những giải pháp chống lạm phát, chống suy thoái kinh tế do nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (NCQ CSVN) đưa ra, tuy bước đầu đạt được vài kết quả nhất định. Thế nhưng xét về thực chất, đó chỉ là những kết quả nửa vời, thiếu căn bản, không giải quyết được tận gốc vấn đề. Chúng nhất định sẽ bùng phát trở lại ngay trong năm 2009 này. Bởi vì, nguyên nhân sâu xa của nó là thể chế chính trị độc tài toàn trị vốn vẫn còn y nguyên.

+ Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong năm 2008 vừa qua cũng đã tác động xấu đến Việt Nam. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng: sự yếu kém toàn diện của bản thân nền kinh tế Việt Nam mới là nguyên nhân chính và đã tiềm ẩn trước khi khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra, bởi lẽ đó là sự pha trộn kỳ quặc giữa tính chất thị trường cạnh tranh với tính chất “xã hội chủ nghĩa”.

2) Về chính trị:

+ Thế kỷ 21 đã bắt đầu được hơn 8 năm với sự nở rộ của nền dân chủ trên toàn thế giới, nhưng dân tộc Việt Nam vẫn còn phải chịu ách áp bức, bóc lột của một thể chế chính trị độc tài toàn trị, phi nhân bản, phản dân tộc và đi ngược lại các quy luật khách quan. Suốt hơn 63 năm qua, chế độ này luôn tập trung quyền lực vào tay một thiểu số lãnh đạo chính trị bất lương trong Đảng cộng sản Việt Nam. Điều này đã triệt tiêu mọi khả năng cống hiến cho quốc gia dân tộc của rất nhiều con dân ưu tú, của những lực lượng chính trị tốt, trong từng giai đoạn xây dựng và phát triển của đất nước. Chế độ này vẫn đang tiếp tục thực thi một chính sách khủng bố khốc liệt nhằm trói tay, bịt miệng tất cả những người Việt Nam yêu nước dám dũng cảm đứng lên đấu tranh giành lại các quyền tự do dân chủ. Nó không hề lấy sự ủng hộ của lòng dân để xây dựng và phát triển đất nước mà lại lấy bạo lực và lừa bịp làm phương tiện để tồn tại. Những biểu hiện ra bên ngoài của nó là nạn tham nhũng, lãng phí và hủy hoại môi trường rộng khắp; là cảnh áp bức, bất công, đói nghèo và tụt hậu đầy dẫy; là thói mua quan, bán chức nhan nhản, là sự giảm thiểu đạo đức xã hội và gia tăng đủ loại tội ác; là sự xâm phạm ngày càng nghiêm trọng đến an ninh cá nhân và xã hội, đến an ninh dân tộc và quốc gia (biên giới đất và biên giới biển).

Tóm lại, những hệ quả xấu xa và nguy hiểm của chế độ này chẳng những là sự tụt hậu về kinh tế mà còn là sự suy đồi về tất cả các mặt của đời sống đất nước như: đạo đức, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao, v.v… Tất cả đang đẩy dân tộc ta vốn có nền văn hiến hàng ngàn năm vào sự suy vong khó tránh khỏi. Điều này thật dễ hiểu, khi mà tập đoàn cầm quyền luôn đặt quyền lợi của họ lên trên quyền lợi của quốc gia, dân tộc. Tập đoàn ấy, với Điều 4 của Hiến pháp hiện hành đã tự quy định cho họ được độc quyền lãnh đạo đất nước vô thời hạn và không hề bị một cơ chế kiểm soát và giám sát nào. Vì vậy họ đã và đang ngày càng tác oai tác quái, đè đầu cưỡi cổ dân tộc. Điều này giải thích vì sao ông Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam hiện nay, từng phát biểu vào ngày 27/8/2007 rằng: “Dù ai có nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ điều 4 Hiến pháp thì cũng không có chuyện đó được. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát...”. Hậu quả là: Trong xã hội Việt Nam nhiễu nhương và suy đồi hôm nay, những cái cần mất thì lại còn (do dã tâm muốn duy trì) và những cái cần còn thì lại mất (do dã tâm muốn loại bỏ) của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam!

Trước tình hình trên, Khối 8406 chúng tôi kêu gọi mọi người Việt Nam còn yêu nước thương nòi, không phân biệt già trẻ trai gái, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, hoàn cảnh xuất thân, giai tầng xã hội, địa điểm sinh sống, v.v… hãy cùng đoàn kết đứng lên đấu tranh để thay thế triệt để chế độ độc đảng, độc tài và phản dân tộc này bằng một chế độ dân chủ, đa nguyên đa đảng và pháp trị tiến bộ trong tương lai, bằng những việc làm cụ thể sau đây:

1) Tiếp tục vạch trần sự thối nát, mục ruỗng toàn diện của chế độ độc tài toàn trị hiện nay; vạch trần sự lũng đoạn bất lương của một thiểu số cầm quyền, đặc biệt là của 15 ủy viên Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam đương chức, đang hàng ngày hàng giờ tàn phá đất nước, dân tộc này!

2) Ủng hộ sáng kiến mở chiến dịch khiếu kiện trước Liên Hiệp Quốc về những vi phạm nhân quyền của NCQ CSVN. Đòi họ phải cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam 3 văn kiện quan trọng (xin xem phần phụ lục). Đó là:

+ Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hiệp quốc (1948).

+ Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (1966).

+ Công ước quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966).

Nội dung của 3 văn kiện đó chứa đựng những quyền tự do căn bản, mà mọi người trên khắp thế giới đều được hưởng. Nhà nước CHXHCNVN đã ký tất cả 3 văn kiện này vào năm 1982 để lừa mị thế giới tiến bộ, nhưng họ lại luôn cố tình vi phạm ở Việt Nam. Thậm chí tuyệt đại đa số người dân trong nước cũng không hề biết là có chúng. Mặt khác, trên tinh thần tích cực và chủ động, Khối 8406 kêu gọi các thành viên của mình và mọi người Việt Nam yêu nước ở khắp nơi, bằng tất cả khả năng của mình, hãy chuyển tải được càng nhiều càng tốt 3 văn kiện trên đến với người dân Việt Nam trong nước (thành thị, nông thôn, trung du, sơn cước lẫn đồng bằng). Cần coi đây là một chiến dịch trọng điểm của năm 2009, gắn chặt nó với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa nhằm giành lại tự do dân chủ cho Dân tộc !

3) Lên án các cuộc đàn áp, theo dõi, bắt bớ, đánh đập, mời đi làm việc, khám nhà, tịch thu tài sản, đuổi việc, xử phạt hành chính, xử tù,… của NCQ CSVN đối với những tiếng nói đấu tranh cho các quyền tự do dân chủ. Đòi họ phải thả các tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo; phải để cho những người đấu tranh dân chủ tự do gặp gỡ, hội họp với nhau và với các nhà hoạt động nhân quyền, lãnh đạo chính trị trên thế giới. Tiếp tục khẳng định và chủ động thực thi các quyền tự do căn bản của con người như: tự do tôn giáo tín ngưỡng, thông tin ngôn luận, phát biểu ý kiến, lập hội, lập đảng; biểu tình để đòi các quyền dân sinh, dân chủ, đòi quyền tự quyết của dân tộc,…

4) Lên án các cuộc đàn áp của NCQ CSVN đối với các cá nhân và tập thể dân sự lẫn tôn giáo đấu tranh đòi lại đất đai bị NCQ CSVN cướp đoạt trên khắp đất nước. Ca ngợi sự ủng hộ của quốc tế đối với cuộc đấu tranh này. Đồng thời, chủ động xây dựng một bản dự thảo Hiến pháp đa đảng, trong đó quyền tư hữu tài sản của công dân, đặc biệt quyền tư hữu về đất đai được tôn trọng và chế độ hộ khẩu bị dứt khoát bãi bỏ.

5) Lên án công hàm bán nước do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 và 2 Hiệp định ký trong 2 năm 1999 - 2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc (về đất và biển). Đòi NCQ CSVN phải đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng 3 văn kiện này cùng những bản đồ và biên bản về các cột mốc biên giới hiện nay song song với Hiệp ước Thiên Tân Pháp - Thanh ký vào năm 1885, để nhân dân Việt Nam có cơ sở so sánh, xem dân tộc đã bị thiệt hại như thế nào. Đòi NCQ CSVN phải cảnh giác và phải chịu trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử về các âm mưu xâm nhập, gặm nhấm, cắm dân, cài người của nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc ở các tỉnh biên giới phía Bắc, ở vùng Tây Nguyên và ở bất cứ vùng đất, vùng trời và vùng biển nào của Tổ quốc Việt Nam!

6) Tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ về mọi mặt của thế giới dân chủ. Đề nghị họ hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, an ninh, văn hóa, giáo dục v.v… với Việt Nam song song với việc yêu cầu và áp lực NCQ CSVN phải tôn trọng các quyền tự do cơ bản của người dân.

7) Lên án cuộc thảm sát Thiên An Môn năm 1989 và những cuộc đàn áp gần đây của nhà cầm quyền Bắc Kinh đối với phong trào dân chủ và dân sinh ở Trung Quốc. Ủng hộ bản Hiến chương 08 (Linh bát Hiến Chương) của các nhà dân chủ nước này. Đồng thời, kêu gọi sự liên minh, liên kết của các lực lượng đấu tranh dân chủ trong lòng các chế độ độc tài còn sót lại trên thế giới như: Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Bắc Hàn.

8) Xây dựng và tăng cường sự đoàn kết đích thực trong nội bộ phong trào dân chủ, với nguyên tắc hợp nhất trong đa diện (nghĩa là chung mục tiêu xóa bỏ chế độ độc tài, xây dựng tự do dân chủ với những phương cách khác biệt). Đồng thời, đấu tranh mạnh mẽ và sáng suốt với âm mưu lũng đoạn, thao túng, gây chia rẽ, phá hoại của bộ máy công an trị Việt Nam hòng chui rúc, len lỏi vào trong phong trào dân chủ.

9) Đồng bào Việt Nam ở ngoài nước khi có điều kiện hãy về sát cánh với đồng bào trong nước để cùng đấu tranh dân chủ.

Việt Nam ngày 12 tháng 2 năm 2009.

Ban điều hành lâm thời Khối 8406.

1) Kỹ sư Đỗ Nam Hải – Sài Gòn – Việt Nam.

2) Trung tá Trần Anh Kim – Thái Bình – Việt Nam.

3) Linh mục Phan Văn Lợi – Huế - Việt Nam.

4) Giáo sư Nguyễn Chính Kết (đang vận động dân chủ tại hải ngoại)

(trong sự hiệp thông của linh mục Nguyễn Văn Lý, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều người đấu tranh dân chủ khác, hiện còn đang bị giam cầm trong lao tù cộng sản.)

Monday, February 23, 2009

Về chính sách của đảng & nhà nước CSVN trong việc khai thác quặng Bauxit tại Tây Nguyên VN
  • Ts. Hoàng Cơ Định & Ts. Mai Thanh Truyết

Friday, February 20, 2009

VIỆT NAM - TRUNG QUỐC 30 năm sau cuộc chiến tranh biên giới, hai chính quyền muốn xòa nhòa quá khứ
Trọng Nghĩa
RFIBài đăng ngày 16/02/2009 Cập nhật lần cuối ngày 16/02/2009 19:51 TU

Công An phiá Trung Quốc ngăn không cho chụp ảnh tại cửa khẩu đối diện với cửa Thanh Thủy của Việt Nam ơ vùng biên giới Vân Nam(Ảnh : Reuters)
Ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc xua quân tấn công các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Ngày 16 tháng 3, Bắc Kinh đã rút lui sau khi gặp sức kháng cự mãnh liệt của lực lượng Việt Nam. Ngày nay, chính quyền cả hai nước đều không muốn nhắc đến sự kiện không tốt lảnh đó trong quan hệ hai bên. Ba chuyên gia Ngô Vĩnh Long tại Mỹ, Carl Thayer tại Úc và Ramses Amer đã lật lại trang sử sóng gió đó trong quan hệ Việt Trung và những hệ quả kéo dài đến nay.
Nếu chỉ căn cứ vào các tuyên bố chính thức của hai chính quyền Hà Nội và Bắc Kinh trong gần hai chục năm gần đây, ít ai có thể nghĩ rằng vào ngày 17 tháng hai năm 1979, cách nay ba thập niên, Trung Quốc đã xua cả trăm ngàn quân tấn công vào các tỉnh biên giới phiá Bắc Việt Nam, nói là để ''dậy cho Việt Nam một bài học''.
Tuy nhiên, sau vỏn vẹn ba tuần lễ giao tranh, gặp sức kháng cự mãnh liệt của lực lượng võ trang Việt Nam, Bắc Kinh đã phải tuyên bố ''hoàn thành mục tiêu'' và rút quân về nước ngày 16 tháng ba. Căng thẳng giữa hai nước vẫn còn dai dẳng trong suốt một chục năm sau đó, vớI những vụ đột kích thường xuyên và đẫm máu của phiá Trung Quốc vào các vùng biên giới Việt Nam.
Phải chờ đến năm 1991, thì hai bên mới bình thường hoá bang giao trở lại, với quan hệ càng lúc càng được cải thiện, đặc biệt trong lãnh vực kinh tế thương mại, với trao đổi mậu dich giữa hai bên vượt mức 20 tỷ đô la vào năm 2008.Hà Nội và Bắc Kinh đều muốn dìm biến cố 1979 vào lãng quênChính vì các mối quan hệ kinh tế hữu hảo đó mà ngày nay, cuộc chiến năm 1979 hầu như đều bị cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh hai chính quyền dìm vào quên lãng, cho dù cách nay ba mươi năm, biến cố đó đã tàn phá các tỉnh biên giới phiá Bắc của Việt Nam, gây thương vong cho cả trăm ngàn người ở cả hai phiá.Theo giáo sư Ramses Amer, chuyên gia về Châu Á Thái Bình Dương tại trường Đại Học Stockholm (Thụy Điển) thì vào thời điểm hiện nay, cả hai nước đều không có lợi gì khi khuấy động quá khứ trở lại. Điều mà chúng ta có thể ghi nhận là hai nước đang cố tìm cách quên đi là đã có cuộc chiến tranh đó. Tôi không tin là sẽ có những lễ kỷ niệm rình rang ở Việt Nam hay ở Trung Quốc.
Một trong những lý do là Việt Nam có cả một chủ trương muốn khép lại quá khứ, nhất là khi đó là một giai đoạn căng thẳng ngắn trong cả một quá trình hữu hảo giữa hai đảng Cộng Sản... Nhắc lại vào lúc này, đối với Hà Nội không có lợi gì cả.
Trung Quốc thì lại càng không muốn nhắc lại vì lẽ bài học mà họ muốn dạy Việt Nam trong thực tế đã biến thành một bài học quân sự lớn đối với chính họ. Thành tích của quân đội Trung Quốc lúc đó đã hoàn toàn không đạt mong muốn của chính quyền Bắc Kinh. Mặc dù là họ đã rêu rao là họ đã thành công, chiếm được một số tỉnh lỵ Việt Nam dọc biên giới theo đúng kế hoạch đề ra, nhưng thực hư thế nào thật khó biết. Hơn nữa, quân đội Việt Nam khi ấy cũng không cần tung các đơn vị tinh nhuệ của mình vào vòng chiến, ngoại trừ ở khu vực Lạng Sơn, nơi có đường đi thẳng xuống Hà Nội. Phải nói là trong suốt cuộc chiến ba tuần lễ đó, quân đội chính quy của Trung Quốc đã phải đối phó với bộ đội địa phương và dân quân Việt Nam, điều này lại càng nêu bật thành tích quân sự của Việt Nam.
Tuy nhiên, do quan hệ xấu với Trung Quốc vào thời đó, Việt Nam, đặc biệt là miền Bắc, đã phải trả một cái giá rất đắt. vì phải nhớ rằng tình hình kinh tế miền Bắc Việt Nam tệ hại đi rất nhiều sau năm 1979 so với thời kỳ trước đó, trong cuộc chiến chống Mỹ chẳng hạn, khi Bắc Kinh giúp đỡ Hà Nội rất nhiều về mặt kinh tế. Bên cạnh đó, vùng biên giới đã bị tàn phá trong lúc mà trong cuộc chiến tranh trước đó, khu vực này không bị hủy hoại nhiều vì Hoa Kỳ tránh không dội bom xuống đấy vì sợ xâm phạm vào lãnh thổ miền Nam Trung Quốc.Nhìn chung, tôi cho rằng ngày nay, cả hai chính phủ, cả hai đảng đều không muốn đề cập đến cuộc chiến đó nữa.
Ở Việt Nam, theo tôi, đối với những người vẫn xem Trung Quốc là một mối đe dọa, như ở Biển Đông chẳng hạn, thì họ muốn kỷ niệm cuộc chiến đó để chứng tỏ rằng Trung Quốc có thể rất nguy hiểm đối với Việt Nam. Còn những người muốn nhấn mạnh đến một giai đoạn mới trong quan hệ Việt Trung, lẽ dĩ nhiên là họ không muốn nhắc lại chuyện xưa đó.Bắc Kinh thất bại về quân sự nhưng thành công về chiến lượcKhi mở cuộc tấn công Việt Nam vào ngày 17 tháng 2 năm 1979, mục tiêu từng được tuyên bố của Bắc Kinh là trừng phạt Hà NộI về tội đã công khai thách thức uy quyền của Trung Quốc. Sáu tuần trước đó, Việt Nam đã đưa quân qua Cam Bót đánh đuổi chế độ diệt chủng Khờ Me Đỏ của Pol Pot, một đồng minh của Trung Quốc. Theo giới phân tích, ngoài nguyên nhân trực tiếp đó, Bắc Kinh cũng muốn dằn mặt một nước Việt Nam đang ngày càng bướng bỉnh, lại có hành động truy bức cộng đồng người Hoa sinh sống tại Việt Nam. Trả lời câu hỏi của RFI, giáo sư Carl Thayer thuộc Học Viện Quốc phòng Úc nhần mạnh :
Về mặt chính thức thì Trung Quốc xâm lấn Việt Nam để ''bình định vùng biên giới'' sau nhiều năm căng thẳng vớI các sự cố ngày càng nhiều. Đặng Tiểu Bình tuyên bố muốn dạy cho Việt Nam một bài học. Có nhiều yếu tố thúc đảy Bắc Kinh mở chiến dịch mà họ mệnh danh là ''phản công tự vệ''. DướI mắt Trung Quốc, Hà Nội đã vô ơn đối với Bắc Kinh : sau khi được giúp đõ trong cuộc chiến chống Mỹ thì đã lại quay sang bạc đãi cộng đồng người Hoa, kề vai sát cánh với Liên Xô lúc đó bị Trung Quốc coi là kẻ thù, rồi lại xâm lăng Cambốt vố là đồng minh của Bắc Kinh.Nguyên nhân thực thụ thúc đầy Bắc Kinh tấn công Việt Nam đó là vì Hà Nội đã thách thức uy quyền và ảnh hưởng của Trung Quốc tại vùng Đông Dương. Lúc đó, Trung Quốc phải hành động để chứng tỏ uy tìn trong việc bảo vệ đồng mính Khờ Me Đỏ.
Thế nhưng, thay vì nâng cao được uy tín thì Trung Quốc đã bị mất mặt vì cuộc tấn công đã bị bộ đội Việt Nam chặn đứng, gây tổn thất nặng nề cho Giải Phóng Quân Trung Quốc. Một trong những mong đợi của Trung Quốc là Việt Nam sẽ tung quân độI chính quy vào vòng chiến, và sẽ phải rút bớt binh lính của mình từ Cam bốt về để điều lên mặt trận phiá Bắc.Trong cả hai lãnh vực này, như hầu hết các chuyên gia quân sự đều ghi nhận, Việt Nam đã không bị rơi vào bẫy. Quân đội chính quy Việt Nam không cần phải lâm trận, trong lúc bộ đội địa phương và dân quân vùng biên giới đã thành công trong việc cản đướng các xe tăng và quân linh Trung Quốc. Còn tại Cambốt, không những Việt Nam không rút quân mà lại còn tăng viện thêm cho lực lượng của mình.Sau ba tuần lễ giao tranh, trong lãnh thổ Việt Nam, sau khi giành được quyền kiểm soát nhiều thành phố của Việt Nam, nhất là các tình lỵ Lạng Sơn Cao Bằng, Lào Cai, ngày 16 tháng ba, Trung Quốc tuyên bố hoàn thành mục tiêu và rút quân về nước sau khi tán phá toàn bộ những nơi bị họ chiếm đóng.Dù ngắn ngày, nhưng cuộc chiến tranh Trung Việt vào năm 1979 đã gây ra những tổn thất rất lớn, đặc biệt về nhân mạng. Theo ghi nhận của giáo sư Carl Thayer, phiá Việt Nam chưa hề chính thức công bố tổn thất của mình trong cuộc chiến đó. Tuy nhiên, trong diễn văn ngày 16 tháng ba năm 1979, lãnh đạo Trung Quốc Đăng Tiểu Bình đã cho rằng họ đã giết được 37.000 bính lính Việt Nam, đánh bị thương 7.000 người và bắt được 5000 tù binh.
Một số nguồn tin Trung Quốc khác cho rằng họ đã hạ sát tứ 35.000 đến 45.000 bộ đội Việt Nam, trong lúc phiá Việt Nam thì bị 28.000 người tử trận. Riêng phiá Việt Nam vào thời ấy đã xác định số thương vong của quân đội Trung Quốc là 45.000 người. Nghĩa trang Vị Xuyên nơi chôn cất chiến sĩ Việt Nam tử trận trong cuộc chiến năm 1979
(Ảnh : Lê Quang Nhật)
Nghĩa Trang phiá Trung Quốc chôn xác binh sĩ Trung Quốc tử trận trong cuộc chiến năm 1979(Ảnh : AFP)
Theo giáo sư Thayer, nếu tính chung, tổng số người chết và bị thương trong cuộc chiến năm 1979, kể cả thường dân, có thể lên đến 75000 người. Theo giới quan sát, về mặt quân sự thì Trung Quốc đã thất bại trong mục tiêu đánh gục Việt Nam, nhưng về mặt chiến lược thì họ đã gặt hái một số thành quả. Giáo sư Carl Thayer phân tích :
Thất bại của Trung Quốc vào năm 1979 tuy nhiên không phải là hoàn toàn. Bắc Kinh đã khéo léo tuyên bố trước là chiến dịch đánh Việt Nam của họ được giớI hạn trong thớI gian và không gian. Họ đã chứng tỏ cho các nước Đông Nam Á thấy là họ sẵn sàng dùng võ lực nếu vị thế và uy lực của họ trong vùng bị thách thức. Một cách cụ thể thì chiến dịch của Trung Quốc đã góp phấn làm cho Việt Nam bị cô lập trong vòng một thập niên tại vùng Đông Nam Á.
Mặt khác, sau khi rút lui, Bắc Kinh vẫn duy trì áp lực ở vùng biên giớI trong vòng một thập niên, bằng cách đe dọa tấn công một lần nữa, buộc Việt Nam phải bố trí lực lương phòng thủ biên giớI phiá Bắc.
Ngoài ra, chiến tranh biên giớI vớI Trung Quốc cũng đã khiến cho việc khởi động tiến trình đổI mớI ở Việt Nam bị chậm đi 7 năm. Vào năm 1978, Đặng Tiểu Bình bắt đầu tung ra các biện pháp cải tổ kinh tế. Giả sử mà Hà NộI Việt Nam thân thiện vớI Bắc Kinh vào lúc ấy, thì có lẽ Việt Nam đã có thể học tập mô hình Trung Quốc và tiến hành đổI mớI kinh tế tại Việt Nam sớm hơn.Một hệ quả khác là sau cuộc tấn công của Trung Quốc, Việt Nam đã bị buộc phải tùy thuộc vào Liên Xô, vớI việc cho Maxtcơva sử dụng căn cứ hải quân Cam ranh. Nói cách khác, tình trạng này đã làm thương tổn uy tìn của Việt Nam vớI tư cách một quốc gia độc lập.
Ba mươi năm sau ngày nổ ra cuộc chiến tranh Trung Việt, quan hệ Việt Nam Trung Quốc đã hữu hảo hẳn lại. Theo giới phân tích cả hai nước, đã rút ra được nhiều bài học từ sự kiện lịch sử đó. Giáo Sư Ramses Amer nhận định :Sau cuộc chiến, cả hai nước đều thấy rằng nếu không giải quyết dứt điểm vấn đề biên giới, tranh chấp có thể bùng lên trở lại, đặc biệt khi quan hệ không thuận thảo. Điều đã xẩy ra trong quá khứ hoàn toàn có thể tái điễn trong tương lai.
Điều quan trọng không chỉ là ký kết hiệp định biên giới mà là hoàn tất việc cắm mốc để có thể đạt tới một cái gì đó tích cực ba mươi năm sau cuộc chiến. Sự kiện hai bên hoàn tất việc cắm mốc trước đầu năm 2009 theo tôi là một biểu tượng rất lớn, vì trên bãi chiến trường cách đây 30 năm, đã trở thành vùng biên giới được phân định mới nhất trên thế giới. Ý nghĩa biểu tượng nằm ở chỗ hai nước đã khẳng định là quan hệ song phương dựa trên các nguyên tắc quốc tế chi phối các quốc gia có chủ quyền chứ không còn là các kiểu quan hệ đặc biệt như dựa trên chủ nghĩa cộng sản châu Á chẳng hạn, cho rằng tương đồng ý thức hệ đó có thể giải quyết mọi sự ! Theo tôi đó là bài học lớn nhất mà hai nước rút ra từ cuộc chiến tranh cách nay ba mươi năm. Người Trung Quốc chuyển táo qua cửa khẩu Thanh Thủy giữa Việt Nam và tỉnh Vân Nam(Ảnh : Reuters)Một bài học nữa theo tôi là Việt Nam đã thấy rõ rằng họ vẫn cần đến Trung Quốc để phát triển kinh tế cho dù thằng được Trung Quốc về mặt quân sự. Thắng được Pháp, thắng được Mỹ, và thắng luôn cả Trung Quốc. Những điểm khác là trong khi Pháp, Mỹ đi rồi thì Trung Quốc vẫn còn đấy. Bài học đối với Việt Nam do đó là tìm cách sống vớI thực tế đó.Chiến thắng của Việt Nam vào năm 1979 theo tôi nằm trong một loạt những thành tích quân sự của nước này từ thập niên 40 thế kỷ trước đến nay. Phải nói là vào năm 1979, quân đội Việt Nam được xem là thuộc loại hùng mạnh nhất thế giới.Thế nhưng, bài học đối với Việt Nam là Trung Quốc có thể gây thiệt hại rất lớn cho Việt Nam, do đó quan hệ bình thường với Trung Quốc là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam, vốn tùy thuộc rất nhiều vào sự tiếp giáp với miền Nam Trung Quốc.Những ai ghé Hà Nội vào thập niên 80 đều thấy rằng miến Bắc Việt Nam thiếu thốn đủ điều, từ lương thực cho đến các mặt hàng tiêu dùng khác vì trước đó các thứ này đều đến từ Trung Quốc. Tóm lại, đối với Việt Nam, bài học là cho dù họ có thể thắng Trung Quốc về mặt quân sự, nhưng họ vẫn cần đến Trung Quốc để có thể phát triển kinh tế. Một người Việt Nam chuyển vận hàng Trung Quốc qua đường biên giới giữa hai tỉnh Quảng Tây và Cao Bằng(Ảnh : Reuters)Tuy nhiên, vấn đề dặt ra là để tranh thủ Trung Quốc duy trì quan hệ hữu hảo, giới lãnh đạo Việt Nam đã tìm cách xoá nhoà trang sử không tốt lành giữa hai đồng minh trong khối xã hội chủ nghĩa đó. giáo sư Carl Thayer phân tích :Ba mươi năm đã trôi qua từ ngày nổ ra cuộc chiến tranh biên giới. Dù các tàn phá của thờI kỳ đó đã được thay thế bằng những đề án phát triển to lớn..., tâm lý bài Trung Quốc có thể vẫn còn tồn tại, đặc biết trong giớI cựu chiến binh và các gia đình của họ. Tuy nhiên Việt Nam là một nhà nước độc đảng, kiểm soát các phương tiện truyền thông và đảy mạnh tuyên truyền trong dân chúng. Vào năm 1979, Hà Nội cho rằng chính chủ nghĩa sô vanh Đại Hán đã gây ra chiến tranh chứ không phải là ngườI dân Trung Quốc hiếu hoà. Một trong những di sản từ cuộc chiến tranh thời đó, đó là giớI lãnh đạo Việt Nam đã chủ trường quên đi những gì xẩy ra vào thờI đó. Các vết thương do cuộc chiến gây ra đã bị một chính sách xoá nhoà trang sử đó bao phủ. Sách lịch sử ở Việt Nam không đề cập đến giai đoạn đó. Các giảng viên tại khoá đào tạo sĩ quan nước ngoài đầu tiên tổ chức cách đây một năm đã từ chối viện dẫn cuộc chiến tranh Trung Việt.Thái độ lãng quên tập thể tại Việt Nam đến từ ý muốn của giớI lãnh đạo đảng vốn tin rằng chính trị có thể lấn lướt sự thật lịch sử. Làm sao mà các cán bộ đảng Cộng sản Việt Nam có thể giải thích được vớI dân chúng rằng nươc Trung Hoa cộng sản đã tấn công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa nều không đặt lại vấn đề ý thức hệ. Lý do là các nhà nước xã hộI chủ nghĩa, trên nguyên tắc, là những nước hiếu hoà không như các thế lực đế quốc !.Tuy nhiên trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng hùng mạnh, vẫn còn tranh chấp chủ quyền vớI Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như sẵn sàng dùng thủ doạn gây sức ép trên các tập đoàn dấu khí ngoại quốc muốn hợp tác vớI Việt Nam để khai thác các khu vực mà Bắc Kinh tự nhận là của họ, chủ trương xoá nhoà quá khứ nêu trên đã không khỏi tạo ra bất bình. Trả lời câu hỏi của RFI, giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia về Trung Quốc tại Đại Học Maine Hoa Kỳ cho rằng điểm đáng nói nhất về cuộc chiến tranh Trung Việt năm 1979 là sự kiện chính quyền Việt Nam thời đó đã che giấu thông tin liên quan đến âm mưu của Bắc Kinh Trung Quốc có chủ định đánh Việt Nam từ lâu, nhưng chính phủ Việt Nam lại không cho dân chúng cũng như thế giớI biết. Đến khi bị đánh ở sườn phiá Nam, qua việc chi viện cho Pol Pot rồi trực tiếp tấn công ở phiá Bắc thì lúc đó Việt Nam mới có phản ứng. Như vậy là quá trễ ! Việt Nam là một nứơc bé nằm gần một nước lớn, Trung Quốc có nhũng lợi ích riêng của họ, Việt Nam phải nghiên cứu kỹ và báo cho dân chúng cũng như thế giới biết chủ định của Bắc Kinh.Theo giáo sư Ngô Vĩnh Long, ý đồ gây hấn vớI Việt Nam đã từng được Trung Quốc bộc lộ từ trước năm 1979 :
Trung Quốc bực Việt Nam, không muốn Việt Nam hoà đàm với Mỹ năm 1969. Sau năm 1972 khi Nixon sang Trung Quốc, Trung Quốc từng hứa vớI Mỹ là sẽ bắt Việt Nam làm theo điều mà Mỹ muốn. Khi đó, Việt Nam không chiụ và Trung Quốc trừng phạt Việt Nam bằng cách cắt viện trợ và sau năm 75, Trung Quốc chi viện cho Pol Pot đày đủ để trang bị cho quân lính Khờ Me Đỏ. Lực lượng Pol Pot lập tức lập tức đánh Việt Nam sau tháng tư năm 1975. Chính phủ Việt Nam dĩ nhiên là biết rõ ý đồ Trung Quốc như thế nào, nhưng lại không nói cho dân chúng biết, và để cho tình hình quá muộn. Bài học ngày hôm nay cũng như thế. Có rất nhiều vấn đề trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, hoặc là chủ ý của Trung Quốc để chèn ép Việt Nam. Thế nhưng, Việt Nam vẫn lặng thinh và ký các bản tuyên bố hợp tác toàn diện với Trung Quốc. Theo tôi, làm sao có thể hợp tác toàn diện được khi mà vào năm 1979, Trung Quốc đã nhất định cắn Việt Nam thật đau, cho chảy máu để chứng minh với Mỹ và các nước khác là họ không còn ở trong phe xã hội chủ nghiã nữa. Thế mà Việt Nam bây giờ phải chăng vẫn còn không hiểu chính sách của Trung Quốc là như thế nào cho nên không muốn cho dân chúng hiểu là thực tâm của Trung Quốc. Tôi nghĩ như vậy rất là nguy.Về nguyên nhân thực thụ khiến Trung Quốc xua quân qua Việt Nam vào năm 1979, giáo sư Ngô Vĩnh Long phân tích :Trung Quốc viện cớ Việt Nam có nguy cơ vào chiếm Kampuchea, cho nên phải đánh và dạy cho Việt Nam một bài học. Đó là cái lý do Trung Quốc nói ra, nhưng thực ra, khi Đặng Tiểu Bình qua Mỹ, nói chuyện với chính quyền Carter, ông ta đã đồng ý với chính quyền Hoa Kỳ là cần đánh Việt Nam để dằn mặt các nước khác trong khu vực. Hiện nay, theo tôi thì nhiều ngườI trong chính quyền Việt Nam thấy Trung Quốc như ''gà phải cáo''. Có nhiều chuyện, lẽ ra phải nói cho thế giớI biết thì lại lặng thinh, lại còn không cho công dân Việt Nam hay là những ngườI nghiên cứu Việt Nam đưa những vấn đề này ra để bàn luận, tranh cãi. Trong lúc đó thì Trung Quốc muốn nói gì về Việt Nam thì nói.Về dụng tâm của Trung Quốc vào năm 1979 khi đánh Việt Nam vào năm 1979, Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho biết :
Trung Quốc đã nói ngay từ đầu, cả 5, 6 tháng trước khi Đặng Tiểu Bình qua Mỹ, là sẽ đánh Việt Nam, để cho Việt Nam một bài học. Đánh Việt Nam cho đến mức nào mà thôi, rồi họ sẽ rút, không muốn kéo dài mãi. Và khi họ đánh Việt Nam thì phải phá tan, nghiã là tàn phá kinh khủng 6 tỉnh miền Bắc. Họ muốn dậy cho Việt Nam một bài học là ''nếu mày không nghe lời tao thi tao sẽ phạt mày''. Dù không thắng Việt Nam về mặt chính trị lúc đó, Trung Quốc đã dùng sự kiện này để tuyên truyền chống Việt Nam mười mấy năm sauPhải nói là Đặng Tiểu Bình thu lợi rất là lớn trên vấn đề quân sự vì ông ta thực hiện chủ trương 4 hiện đại hoá, trong đó quan trọng nhất là hiện đại hoá quân đội. Làm sao để chứng minh cho dân chúng Trung Quốc quân độI của họ yếu kém, cần phải hiện đại hoá. Thế là Bắc Kinh đưa những cái có thể gọI là đạo binh kém cỏi nhất sang đánh Việt Nam, để rồi sau đó, khi rút lui, để ngưòi ta nói là quân độI Trung Quốc như thế cũng bị thiệt hại thế này thế kia, Đặng Tiểu Bình dùng cái đó để đẩy cái vấn đề hiện đại hoá quân độiTrung Quốc klên thành ưu tiên. Điều này đã được nhiều người nghiên cưú về Trung Quốc chứng minh.Theo giáo sư Ngô Vĩnh Long, như vậy Hệ quả cuộc chiến Trung Việt đối vớI Việt Nam rất nặng nề, đặc biệt trong việc tạo ra tâm lý e ngại Trung Quốc trong giớI lãnh đạo : Hệ quả cuộc tấn công Việt Nam, theo tôi, là sự kiện nhiều ngườI trong giớI lãnh đạo Việt Nam thấy Trung Quốc là sợ và muốn làm hài lòng Trung Quốc. Thế nhưng ta không thể nào chiều ý Trung Quốc 100% được, ví dụ như là việc ký kết các hiệp định nói là Việt Nam sẽ hợp tác toàn diện trong mọi lãnh vực đối vớI Trung Quốc, kể cả trong vấn đề đào tạo cán bộ, rồi cho Trung Quốc biết về tình hình Việt Nam thế này thế kia. Tôi nghĩ như vậy ấy là quá mức. Không có một đất nước nào trên thế giới mà có thể hợp tác toàn diện vớI một nước khác được. Kể cả trong gia đình, vợ chồng vớI nhau cũng có nhiều chuyện, và khi không đồng ý là phải nói ra, phải nói cho nhau biết. Đằng này tôi nghĩ là sau khi bị Trung Quốc trừng phạt như vậy, nhiều người Việt Nam như tôi vừa nói, là đã thấy Trung Quốc cũng giống như là gà thấy cáo. Như vậy rất là khó cho vấn đề giao lưu vớI Trung Quốc về lâu về dài, bởi vì Trung Quốc sẽ càng ngày càng ép Việt Nam. Đến khi mà dân chúng Việt Nam không chiụ được nữa, tôi e rằng đó sẽ là một vấn đề gây rất khó khăn, không những giữa chính quyền Việt Nam vớI dân chúng mà cả giữa Việt Nam vớI Trung Quốc. Nếu mà mình muốn có một sự hợp tác ổn định và lâu dài, thì phải có một sự công bằng, và bình đẳng giữa hai bên.Ngoài ra việc bưng bít thông tin về quan hệ vớI Trung Quốc theo giáo sư Ngô Vĩnh Long cũng là một điều tai hại : Hiện nay, dân chúng Việt Nam cũng không hiểu rõ thực sự vấn đề lịch sử lúc đó là như thế nào, cũng như những vấn đề nổI cộm trong quan hệ giữa Việt Nam Trung Quốc từ năm 1979 đến giờ. Về những chuyện này, bên Trung Quốc họ muốn nói gì họ nói, trong khi đó phiá Việt Nam thì sợ mất hoà khí vớI Trung Quốc, thành ra không dám nói ra những vấn đề này. Tôi thấy là nhièu những ngườI nghiên cứu về Trung Quốc ngay ở Việt Nam cũng không nói ra, sợ như vậy là mất hoà khí. Tôi nghĩ đây là một vấn đề rất là đáng lo ngại. Trong sách sử Việt Nam, giai đoạn chiến tranh đó không những không được đề cập tới, mà bao nhiêu vấn đề trong quan hệ giữa hai nước từ hồi tái lập bang giao cũng không đưọc nhắc đến. Rất nhiều chuyện dân chúng không biết. Theo tôi, không đề cập tới như vậy rất nguy hiểm. Ở Việt Nam, có rất nhiều người thông thạo tiếng Trung Quốc, nhưng mà tôi không thấy có những nhóm nghiên cứu về Trung Quốc một cách kỹ càng, hay là có nhưng bị che giấu. Trong bao nhiêu năm tôi về Việt Nam từ năm 1979 đến nay, tôi đã đi tìm những đồng nghiệp nghiên cứu về Trung Quốc để có thể đàm thoại, nhưng rất khó, bởi vì hình như có chính sách là không được nói về Trung Quốc.Đối với giáo sư Ngô Vĩnh Long, chủ trương thực dụng hiện nay, tránh né dụng chạm đến Trung Quốc để duy trì quan hệ hữu hảo đạc biệt là về mặt kinh tế, là một tính toán không đúng :Là một nước nhỏ bé ở gần một nước lớn, Việt Nam phải cho thế giới biết là mình bị chèn ép như thế nào, hay là phải báo cho nước lớn biết là họ nên có thái độ vừa phải, nếu không thì mình sẽ ''la làng''. Không nên để họ nói môi hở răng lạnh, nhưng mà cái răng cứ cắn môi hoài, cắn chẩy máu không biết bao nhièu lần và cứ để cho nó cắn. Tôi nghĩ cái vấn đề đó không đúng. Nếu Việt Nam cứ để cho Trung Quốc ép mình, từ vấn đề bien giới, chuyện đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cho đến vấn đề thương mại giữa hai bên, ép mãi cho đến cuối cùng, nghiã là Việt Nam lọt hẳn vào quỹ đạo của Trung Quốc. Nếu Việt Nam vào cái quỹ đạo của Trung Quốc, thì làm sao Việt Nam có thể độc lập cho được. Ông Hồ Chí Minh từng nói là không có gì quý hơn độc lập tự do. Đánh thắng Mỹ rồi thì Việt Nam đang lọt vào cái thế có thể nói là bị Trung Quốc làm cho mất độc lập, và phần nào mất tự do.Như tôi đã nói, cái hậu quả năm 1979, đó là sự kiện sau đó, vì sợ mất hoà khí với Trung Quốc, nên Việt Nam cứ nhượng bộ mãi, có nhiều chuyện đáng lẽ không nên nhượng bộ, nên cho dân chúng, cho thế giới biết thì Việt Nam cứ lặng thinh. Tôi nghĩ khi mà có chuyện lớn xẩy ra thì làm sao mà người ta biết để mà nguoì ta có thể ủng hộ mình. Tôi cho rằng để bảo vệ đất nước mình, hay là để tự vệ, ta phải làm như những con cá nhỏ thường đi cả bày. Muốn bảo vệ mình, Việt Nam đương nhiên phải có những quan hệ tốt với các nước láng giềng. Việt Nam có một vị trí rất quan trọng, nếu năng động sẽ lôi kéo được bè bạn trong khu vực và thế giới để giúp đỡ bảo vệ Việt Nam. Nếu mà Việt Nam cứ lẻ loi đi với Trung Quốc, để bị họ ngày càng chèn ép, thì tôi sơ rằng vấn đề rất nguy, không những cho Việt Nam mà cho cả khu vực.
Giáo sư Ngô Vĩnh Long, Đại học Maine (Hoa Kỳ):http://www.rfi.fr/player/telecharger.aspx?ancien=False&fichier=http://telechargement.rfi.fr.edgesuite.net/rfi/vietnamien/audio/modules/actuvi/R110/NVLong_16_02_2009.mp3ĐÔNG NAM Á
Mong đợi Mỹ cân bằng ảnh hưởng của Bắc Kinh
Mai Vân
RFI Bài đăng ngày 16/02/2009 Cập nhật lần cuối ngày 16/02/2009 17:08 TU
Đông Nam Á thêm nghi ngại trước những tham vọng của Bắc Kinh, mong chờ Hoa Kỳ tăng cường sức mạnh để cân bằng áp lực của «Thiên triều». In bàiGửi bàiBình luận bài Trung Quốc ngày càng thâm nhập sâu hơn vào trong vùng Đông Nam Á với các đề án đầu tư, xây dựng hạ tầng cơ sở, khai thác tài nguyên và dĩ nhiên là phát triển thương mại.Ở Lào chẳng hạn, Bắc Kinh đã đầu tư vào việc trồng cây cao su. Loại cây công nghiệp này bao phủ các ngọn đồi tỉnh Luan Nam Tha. Một đường xa lộ dài mới tinh đã được xây dựng, chạy xuyên qua vùng này, tạo điều kiện cho việc chuyên chở hàng hoá. Xe vận tải hàng hoá Trung Quốc do đó có thể nhanh chóng đi đến miền Bắc Thái Lan, và sắp tới đây còn xuống tận Bangkok. Đối với Miến Điện thì ảnh hưởng của Bắc Kinh rất lớn. Trung Quốc là nước đầu tư hàng đầu tại đấy, nhất là trong lãnh vực năng lượng, khí đốt. Về mặt chiến lược, đây là con đường để Trung Quốc vươn ra Ấn Độ Dương. Trung Quốc cũng đã tăng cường hoạt động kinh tế và thương mại tại Cam Bốt. Còn đối với Việt Nam, thì trao đổi thương mại với Trung Quốc năm qua, lên hơn 20 tỷ đô la, trong đó, theo AFP, Việt Nam nhập hơn 15 tỷ hàng từ Trung Quốc.Một bằng chứng về việc dấn thân ngày càng sâu trong khu vựcvà mối quan hệ mà Trung Quốc muốn tốt đẹp hữu hảo với các nước Đông Nam Á : Bắc Kinh, tháng 12 năm ngoái, lần đầu tiên đã đề cử một đại sứ bên cạnh Asean.Mặc dù thế, theo một nhà phân tích của viện quốc tế hoà bình, SIPRI, ở Stockholm, nhiều nước trong vùng vẫn lo ngại trước những mục tiêu và tham vọng về lâu về dài của Bắc Kinh và đặc biệt là trước năng lực quân sự ngày càng lớn mạnh của Trung quốc. Nhà báo Pháp Pomonti, nêu ví dụ tranh chấp ở Biển Đông, nhắc lại là quốc hội Trung Quốc đã bỏ phiếu về chủ quyền của Trung Quốc trên 80% vùng biển này và Bắc Kinh chỉ đề nghị cùng khai thách tài nguyên tại đây. Theo Pomonti, Việt Nam không tin tưởng gì nơi Trung Quốc, nhưng không thể nào làm khác hơn. Có điều là giải pháp quân sư hoàn toàn bị gạt bỏ.Còn chuyên gia viện Sipri thì nhận thấy phần lớn các nước Đông Nam Á rất muốn thấy Hoa Kỳ và Nhật Bản hiện diện mạnh mẽ trong khu vực để duy trì thế quân bình.

Mạng Lưới Tuổi Trẻ VN Lên Đường - thành viên mới của Liên Minh IYDU

2009-02-08

Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế, (viết tắt là IYDU), là một tổ chức phi chính phủ cổ súy cho nhân quyền-dân chủ trên toàn cầu, lên án sự cai trị độc tài, và kêu gọi các nhà nước tôn trọng quyền tự do căn bản của công dân để tiến tới một xã hội dân sự thực thụ.

Hình do các nhà tranh đấu trong nước cung cấp.

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và Dân Biểu Na Uy Peter Skovholt Gitmark.

Đây là một tổ chức có uy tín, được bảo trợ bởi cựu nữ thủ tướng đầu tiên của nước Anh, bà Margaret Thatcher. Các thành viên đa quốc gia của IYDU là những tổ chức hay cá nhân, những người trẻ làm chính trị, những nhà lãnh đạo, và những chính trị gia trẻ tuổi trên thế giới.

Liên minh IYDU vừa kết nạp thành viên mới là Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường, trụ sở tại Hoa Kỳ, gồm những người trẻ cùng chí hướng đấu tranh dân chủ cho quê hương Việt Nam.

Trà Mi có thêm chi tiết:

Các nước trên thế giới rất quan tâm đến tình trạng người dân Việt Nam đang phải chịu những điều kiện khắc nghiệt dưới chế độ độc tài, nơi mà công dân hoàn toàn không có quyền tự do nói lên những quan điểm bất đồng với nhà nước.

Ông Charlie Smith, Chủ tịch College Republican National Committee

Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế là một mạng lưới uy tín và quy mô toàn cầu được thành lập cách nay trên dưới 15 năm, với số tham gia tính tới nay chừng 5 triệu thành viên, gồm 80 tổ chức khác nhau từ khoảng 60 quốc gia trên thế giới.

Hoạt động và đóng góp

Trong cuộc trao đổi với chúng tôi, ông Peter Gitmark, Chủ tịch của Liên minh trình bày về hoạt động, sự đóng góp, và ảnh hưởng của tổ chức này:

Mỗi năm chúng tôi tổ chức 2 hội nghị lớn. Một là Diễn đàn Tự do thường diễn ra vào mùa hè, và hai là cuộc họp Hội đồng vào cuối năm để bầu ra những lãnh đạo chuyên trách. Đó là hai sự kiện liên kết quan trọng nhất để chúng tôi cùng ngồi lại bàn thảo, cải tiến chính sách, đường lối hoạt động của tổ chức.

Chúng tôi cũng tổ chức nhiều chiến dịch cổ võ cho quyền tự do của con người trên thế giới, chẳng hạn như chiến dịch ở Zimbabwe do chính tôi lãnh đạo. Chúng tôi cũng có chiến dịch cổ súy tự do ở Belarus. Và hiện nay chúng tôi sắp sửa giới thiệu các chiến dịch vận động cho tự do-dân chủ của Cuba và Việt Nam.

Ảnh hưởng lớn nhất của Liên minh đến nay được thể hiện qua việc nối mạng liên đới rất hữu hiệu và có ý nghĩa. Rất nhiều nhà lãnh đạo trẻ tuổi và các chính trị gia có cơ hội gặp gỡ giao lưu, trao đổi ý kiến và cùng thảo luận về những việc cần làm, những giải pháp đối phó với các vấn đề quan tâm. Đối với môi trường chính trị quốc tế thì IYDU là tiếng nói có một số ảnh hưởng nhất định.”

Từ Argentina, một thành viên gia nhập IYDU hơn năm nay là ông Fernando Gril, 29 tuổi, Chủ tịch Tổ chức Thế hệ Dân chủ của Argentina, nhận xét về vai trò và đóng góp cụ thể của Liên minh IYDU đối với nền dân chủ toàn cầu:

IYDU là một tổ chức quy mô liên kết tất cả các tổ chức của người trẻ đặt niềm tin vào dân chủ, nhân quyền, kinh tế-mậu dịch tự do. Đây là một nơi quan trọng để chúng ta chia sẻ kinh nghiệm và dự tính những hành động cụ thể nhằm tăng cường dân chủ trên toàn cầu. Ví dụ như đối với trường hợp của quốc gia độc tài duy nhất tại Châu Mỹ Latin là Cuba, chúng tôi có rất nhiều hoạt động thông qua các bản tuyên ngôn và các chiến dịch vận động lên án tình trạng tù nhân chính trị và nhân quyền tại đây. Chúng tôi rất quan tâm đến những gì đang diễn ra tại những đất nước độc tài, không có dân chủ thực thụ.”

Ông Charlie Smith, Chủ tịch tổ chức chính trị lớn nhất và lâu đời nhất của người trẻ tại Mỹ mang tên College Republican National Committee, một trong những tổ chức đồng sáng lập ra Liên minh IYDU, nói về Liên minh này:

Mạng lưới khuyến khích các bạn trẻ trong nước lên blog đưa những thông tin thực tế ra ngoài để thế giới biết tình hình thực tế tại Việt Nam. Còn riêng ở hải ngoại thì chúng ta cần ủng hộ những người trẻ can đảm.

Anh Phan Đình Quốc, Tổng thư ký MLTTVNLĐ

Đây là một cơ hội tốt cho mọi người đến với nhau để bàn thảo và hành động hầu phát huy nhân quyền, dân chủ, mậu dịch và kinh tế tự do cho các nước, vốn là những giá trị và tiêu chí căn bản hết sức cần thiết.”

Thành viên mới

Giữa tháng Giêng 2009, Liên minh IYDU vừa kết nạp một thành viên mới là Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường, một tổ chức của người trẻ hải ngoại quan tâm và cổ súy cho tự do dân chủ tại Việt Nam. Việc gia nhập này có ý nghĩa như thế nào? Anh Phan Đình Quốc, Tổng thư ký của Mạng Lưới, nhấn mạnh:

Chúng tôi đã trình bày với tất cả thành viên trong IYDU về vấn đề nhân quyền của Việt Nam rất rõ ràng. Tổ chức IYDU có một tiềm lực là các chiến dịch vận động cho tự do (freedom campaign). Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường cố gắng vào trong chiến dịch này để cùng các tổ chức khác nâng cao nhân quyền cho đất nước Việt Nam. Đó là điều cụ thể mà người trẻ ngoài đây có thể làm được để thúc đẩy, xây dựng tự do dân chủ cho Việt Nam.”

Về những điều mà người trẻ trong và ngoài nước có thể làm nhằm tạo hiệu ứng mạnh mẽ phát huy dân chủ ở Việt Nam, anh Quốc nói thêm:

Thứ nhất chúng ta phải cần nâng cao vấn đề thông tin. Mạng lưới khuyến khích các bạn trẻ trong nước lên blog đưa những thông tin thực tế ra ngoài để thế giới biết tình hình thực tế tại Việt Nam. Còn riêng ở hải ngoại thì chúng ta cần ủng hộ những người trẻ can đảm.”

Chủ tịch Liên minh IYDU, ông Peter Gitmark, cho biết với sự gia nhập của Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường, chiến dịch vận động tự do-dân chủ cho Việt Nam sẽ được nhanh chóng thiết lập và đi vào hoạt động:

Chúng tôi sẽ cùng làm việc với Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường để bàn xem phương cách nào tốt nhất để chúng tôi tiến hành chiến dịch này, để có được áp lực từ bên ngoài, để bảo đảm rằng khi các thành viên của chúng tôi đến Việt Nam có thể tiếp xúc, tiếp nhận những người tù lương tâm tại Việt Nam làm đại diện hay thành viên, có thể gửi thư ngỏ đến giới lãnh đạo Việt Nam, và khi chúng tôi đến Việt Nam không chỉ với tư cách là du khách mà còn còn có thể tìm hiểu được diễn tiến và tình hình dân chủ thật sự tại Việt Nam.”

Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường cố gắng vào trong chiến dịch này để cùng các tổ chức khác nâng cao nhân quyền cho đất nước Việt Nam. Đó là điều cụ thể mà người trẻ ngoài đây có thể làm được để thúc đẩy, xây dựng tự do dân chủ cho Việt Nam.

Anh Phan Đình Quốc, Tổng thư ký MLTTVNLĐ

Còn ông Charlie Smith, Chủ tịch tổ chức đồng sáng lập ra Liên minh IYDU mang tên College Republican National Committee thì chia sẻ rằng:

Trong cuộc họp vừa rồi có một số thành viên của Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường tham gia và chúng tôi đã có cuộc đối thoại với họ về các phương pháp vận động dân chủ-nhân quyền cho Việt Nam. Các nước trên thế giới rất quan tâm đến tình trạng người dân Việt Nam đang phải chịu những điều kiện khắc nghiệt dưới chế độ độc tài, nơi mà công dân hoàn toàn không có quyền tự do nói lên những quan điểm bất đồng với nhà nước. Đó là quyền cơ bản của con người và chúng ta phải giúp họ khắc phục thực trạng này bằng áp lực của quốc tế. Và đó cũng là điều mà IYDU hướng tới. Chúng tôi cùng nhau làm việc để thiết lập những chương trình mà IYDU có thể bảo trợ, tìm các nguồn lực cho các phong trào cổ súy tự do-dân chủ cho những quốc gia toàn trị.”

Người đứng đầu Liên minh các nhà dân chủ trẻ quốc tế khẳng định trong số bốn giá trị cốt lõi mà Liên minh đề cao bao gồm dân chủ, nhân quyền, tự do thị trường, và tự do thương mại, IYDU sẽ ưu tiên chú trọng vào hai yếu tố đầu tiên là tôn trọng dân chủ và nhân quyền đối với trường hợp của Việt Nam

Saturday, February 7, 2009

Wednesday, December 17, 2008

9 Thủ Đoạn Xâm Lấn Của Trung Quốc

Thưa quí thính giả và độc giả của Radio Chân Trời Mới,

Chỉ vào một vài thời điểm rất hiếm hoi trong hơn nửa thế kỷ qua mà nhà cầm quyền CSVN thực sự tiết lộ những hành vi và ý định xâm lấn có tính qui mô, kế hoạch và liên tục của Bắc Kinh đối với lãnh thổ Việt Nam. Vào năm 1979, khi các xung đột lớn diễn ra giữa 2 nước, Lãnh đạo Đảng đã cho in 3 cuốn sách với tựa đề:

- Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam - Trung Quốc Trong 30 Năm Qua của Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN.

- Phê Phán Chủ Nghĩa Bành Trướng và Bá Quyền Nước Lớn Của Giới Cầm Quyền Phản Động Bắc Kinh của Ủy Ban Khoa Học Xà Hội Việt Nam.

- Vấn Đề Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc của Nhà xuất bản Sự Thật.

Dưới đây là nguyên văn chương 2 của cuốn "Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc", liệt kê 9 loại thủ đoạn mà Trung Quốc đã sử dụng để xâm chiếm đất nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua.


Chương 2

Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay

Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã lần lượt lấn chiếm hết khu vực này đến khu vực khác của Việt Nam, từ khu vực nhỏ hẹp đến khu vực to lớn, từ khu vực quan trọng về quân sự đến khu vực quan trọng về kinh tế. Họ đã dùng đủ loại thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn xấu xa mà các chế độ phản động của Trung Quốc trước kia không dùng. Dưới đây là một số thủ đoạn chính:

1- Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất.

Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một giải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư. Những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.

Khu Vực Trình Tường thuộc tỉnh Quảng Ninh là một thí dụ điển hình cho kiểu lấn chiếm đó. Khu vực này được các văn bản và các bản đồ hoạch định và cắm mốc xác định rõ ràng là thuộc lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình Tường, những người Trung Quốc sang quá canh ở Trình Tường đều đóng thuế cho nhà đương cục Việt Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. Nhà đương cục Trung Quốc nghiễm nhiên biến một vùng lãnh thổ Việt Nam dài 6 kí-lô-mét, sâu hơn 1300 kí-lô-mét thành sở hữu tập thể của một công xã Trung Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh sống ở Trình Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện thoại, tự cho phép đi tuần tra khu vực này, đơn phương sửa lại đường biên giới sang đồi Khâu Thúc của Việt Nam. Tiếp đó, họ đã gây ra rất nhiều vụ hành hung, bắt cóc công an vũ trang Việt Nam đi tuần tra theo đường biên giới lịch sử và họ phá hoại hoa màu của nhân dân địa phương. Trình Tường không phải là một trường hợp riêng lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung Quốc tranh lấn với thủ đoạn tương tự như xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc (mốc 25, 26, 27) ở Lạng Sơn, Khẳm Khau (mốc 17-19) ở Cao Bằng, Tả Lũng, Làn Phù Phìn, Minh Tân (mốc 14) ở Hà Tuyên, khu vực xã Nặm Chay (mốc 2-3) ở Hoàng Liên Sơn với chiều dài hơn 4 kí-lô-mét, sâu hơn 1 kí-lô-mét, diện tích hơn 300 héc-ta. Có thể nói đây là một kiểu chiếm đất một cách êm lặng.

2- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1955, tại khu vực Hữu nghị quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên, gần Hà Nội, lợi dụng long tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300 mét so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho nghành đường sắt hai bên điều chỉnh lại đường nối ray cho phù hợp đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét. Cho đến nay, họ vẫn trắng trợn ngụy biện rằng khu vực hơn 300 mét đường sắt đó là đất Trung Quốc với lập luần rằng “không thể có đường sắt của nước này đặt trên lãnh thổ nước khác”. Cũng tại khu vực này, phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam quan 100 mét trên đuờng quốc lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột kí-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100 mét, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này.

Như vậy, họ đã lấn chiếm một khu vực liên hoàn từ đường sắt sang đường bộ thuộc xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam, dài 3100 kí-lô-mét và vào sâu đất Việt Nam 0,500 kí-lô-mét. Năm 1975, tại khu vực mốc 23 (xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn), họ định diễn lại thủ đoạn tương tự khi hai bên phối hợp đặt đường ống dẫn dầu chạy qua biên giới: phía Việt Nam đề nghị đặt điểm nối ống dẫn dầu đúng đường biên giới, họ đã từ chối, do đó bỏ dở công trình này. Khi xây dựng các công trình cầu cống trên sông, suối biên giới, phía Trung Quốc cũng lợi dụng việc thiết kế kỹ thuật làm thay đổi dòng chảy của sông, suối về phía Việt Nam, để nhận đường biên giới có lợi cho phía Trung Quốc.

Cầu ngầm Hoành Mô thuộc tình Quảng Ninh được Trung Quốc giúp xây dựng vào năm 1968. Một thời gian dài sau khi cầu được xây dựng xong, hai bên vẫn tôn trọng đường biên giới ở giữa cầu ; vật liệu dự trữ để sửa chữa cầu sau này cũng được đặt ở mỗi bên với số lượng bằng nhau tính theo đường biên giới giữa cầu. Nhưng do Trung Quốc có sẵn ý đồ chỉ xây một cống nước chảy nằm sát bờ Việt Nam nên lưu lượng dòng chảy đã chuyển hẳn sang phía Việt Nam, từ đó phía Trung Quốc dịch đường biên giới trên cầu quá sang đất Việt Nam. Thủ đoạn như vậy cũng được thực hiện đối với cầu ngầm Pò Hèn (Quảng Ninh), đập Ái Cảnh (Cao Bằng), cầu Ba Nậm Cúm (Lai Châu)…

3- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.

Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.

Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung Quốc đã huy động trên 2000 người, kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.

Các thị trấn Ái Điểm (đối diện với Chi Ma, Lạng Sơn), Bình Mãng (đối diện Sóc Giang, Cao Bằng) vốn đã nằm sát các mốc giới 43 và 114, lại ngày càng được phía Trung Quốc mở rộng ra lấn sang đất Việt Nam từ hang chục đến hàng trăm mét với Công trình nhà cửa, trường học, khu phố… Bằng cách tổ chức lâm trường, trồng cây gây rừng, làm đường chắn lửa, đặt hệ thống điện cao thế, điện thoại lấn vào lãnh thổ Viêt Nam, Trng Quốc đã biến nhiều vùng đất khác của Việt Nam thành đất của Trung Quốc.

4- Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc.

Ở một số địa phương, do địa hình phức tạp, điều kiện sinh hoạt của dân cư Trung Quốc gặp khó khăn, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, Việt Nam đã cho Trung Quốc mượn đường đi lại, cho dùng mỏ nước, cho chăn trâu, lấy củi, đặt mồ mã… trên đất Việt Nam. Nhưng lợi dụng thiện chí đó của Việt Nam, họ đã dần dần mặc nhiên coi những vùng đất mượn này là đất Trung Quốc. Khu vực Phia Un (mốc 94-95) thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng là điển hình cho kiểu lấn chiếm này. Tại đây, mới đầu phía Trung Quốc mượn con đường mòn, rồi tự ý mở rộng mặt đường để ô-tô đi lại được vào khu vực mỏ của Trung Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập làng bản mới. Dựa vào “thực tế” đó, từ 1956 họ không thừa nhận đường biên giới lịch sử chạy trên đỉnh núi Phía Un mà đòi biên giới chạy xa về phía nam con đường, sâu vào đất Việt Nam trên 500 mét. Lý lẽ của họ là nếu không phải đất của Trung Quốc sao họ lại có thể làm đường ô-tô, đặt đường điện thoại được… Nguyên nhân chủ yếu của việc lấn chiếm là vì khu vực Phía Un có mỏ măng-gan.

5- Xê dịch và xuyên tạc pháp lý các mốc quốc giới để sửa đổi đường biên giới.

Ngoài việc lợi dụng một số các mốc giới đã bị Trung Quốc xê dịch từ trước sai với nguyên trạng đường biên giới lịch sử để chiếm giữ trái phép đất Việt Nam, nay phía Trung Quốc cũng tự ý di chuyển mốc ở một số nơi, hoặc lén lút đập phá, thủ tiêu các mốc không có lợi cho họ như ở khu vực Chi Ma (Lạng Sơn), khu vực mốc 136 ở Cao Bằng… Đối với những trường hợp như vậy, họ đều khước từ đề nghị của phía Việt Nam về việc hai bên cùng điều tra và lập biên bản xác nhận. Ngay tại một số nơi mà vị trí mốc giới đặt đúng với đường biên giới đã rõ ràng chạy giữa hai mốc như khu cực Kùm Mu-Kim Ngân-Mẫu Sơn (mốc 41, 42, 43) ở Lạng Sơn dài trên 9 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2,5 ki-lô-mét, diện tích gần 1000 héc-ta, khu vục Nà Pảng – Kéo Trình (mốc 29, 30, 31) ở Cao Bằng, dài 6,450 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 1,300 ki-lô-mét, diện tích gần 200 héc-ta.

6- Làm đường biên giới lấn sang đất Việt Nam.

Để chuẩn bị cho các cuộc tiến công xâm lược Việt Nam, liên tiếp trong nhiều năm trước, phía Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch làm đường biên giới quy mô lớn nấp dưới danh nghĩa là để “cơ giới hóa nông nghiệp”. Đặc biệt là từ năm 1974 lại đây, họ đã mở ồ ạt những chiến dịch làm đường có nơi huy động một lúc 8,000 người vào công việc này. Trong khi làm các đường đó, họ phá di tích về đường biên giới, lịch sử, nhiều nơi họ đã lấn vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ tính từ tháng 10 năm 1976 đến năm 1977, bằng việc làm đường biên giới họ đã lấn vào đất Việt Nam tại hàng chục điểm, có điểm diện tích rộng trên 32 héc-ta, sâu vào đất Việt Nam trên 1 kí-lô-mét như khu vực giữa mốc 63-65 thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng hay khu vực giữa mốc 1-2 Cao Ma Pờ thuộc tỉnh Hà Tuyên dài 4 kí-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2 kí-lô-mét.

7- Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới.

Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ: họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác-Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.

8- Dùng lực lượng vũ trang uy hiếp và đóng chốt để chiếm đất.

Trên một số địa bàn quan trọng, phía Trung Quốc trắng trợn dùng lực lượng võ trang để cố đạt tới mục đích xâm lấn lãnh thổ. Tại khu vực Trà Mần-Suối Lũng (mốc 136-137) thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, năm 1953 Trung Quốc đã cho một số hộ dân Trung Quốc sang xâm cư ở cùng dân của Việt Nam, sau đó, họ tiếp tục đưa dân sang thêm hình thành ba xóm với 16 hộ, 100 nhân khẩu mà họ đặt tên Si Lũng theo tên một làng ở Trung Quốc gần đó. Tuy thế, cho đến năm 1957 phía Trung Quốc vẫn thừa nhận khu vực nầy là đất của Việt Nam. Từ năm 1957 trở đi, họ tiến hành việc dựng trường học, bắc dây truyền thanh đào hố khai thác than chì rồi ngang nhiên cắm cờ biểu thị chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

Tháng 6 năm 1976, họ đã trắng trợn đưa lực lượng vũ trang đến đóng chốt để đàn áp quần chúng đấu tranh và ngăn cản việc tuần tra của Việt Nam vào khu vực này, chiếm hẳn một vùng đất của Việt Nam trên 3,2 kí-lô-mét, có mỏ than chì.

Ở khu vực giữa mốc 2-3 thuộc xã Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn cũng xảy ra tình hình như vậy. Năm 1967-1968, nhiều hộ người Mèo thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chạy sang định cư ở đây. Phía Việt Nam đã yêu cầu phiá Trung Quốc đưa số dân đó trở về Trung Quốc, nhưng họ đã làm ngơ, lại tiếp tục tăng số dân lên đến 36 hộ gồm 152 người, vào vùng nầy thu thuế, phát phiếu vải cho dân, đặt tên cho xóm dân Mèo này là “Sin Sài Thàng”, tên của một bản Trung Quốc ở bên kia biên giới cách khu vực này 3 ki-lô-mét. Mặc dù phía Việt Nam đã nhiều lần kháng nghị, họ vẫn không rút số dân đó đi, trái lại năm 1976 còn đưa lực lượng vũ trang vào đóng chốt chiếm giữ. Nay họ đã lập thêm đường dây điện thoại, loa phóng thanh, dựng trường học, tổ chức đội sản xuất, coi là lãnh thổ Trung Quốc.

9- Đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (3).

Quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) cách Đà Nẵng khoãng 120 hải lý về phía đông. Phía Việt Nam có đầy đủ tài liệu để chứng minh rằng quần đảo này, cũng như quần đảo Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) ở phía nam, là lãnh thổ Việt Nam. Từ lâu, nhân dân Việt Nam đã phát hiện và khai thác quần đảo Hoàng Sa; nhà Nguyễn đã chính thức thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ nước Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX, Pháp, nhân danh nước Việt Nam, đã lập trạm khí tượng mà các số liệu được cung cấp liên tục trong mấy chục năm cho Tổ Chức Khí tượng thế giới (OMM) dưới ký hiệu Hoàng Sa (Pattle). Việt Nam đã liên tục thực hiện chủ quyền của mình đối với quần đảo này. Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa là rõ rang và không thể chối cãi được.

Nhưng sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam theo quy định của Hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973, và nhân lúc nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng miền nam Việt Nam và ngụy quyền miền nam sắp sụp đổ, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã trắng trợn dùng lực lượng vũ trang chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Cách họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vẫn là cách họ đã dùng để lấn chiếm đất đai của các nước láng giềng, nhưng với một sự phản bội hèn hạ vì họ luôn luôn khoe khoang là “hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam anh em”. Đại để sự kiện diễn biến như sau:

- Ngày 26 tháng 12 năm 1973, Bộ ngoại giao Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông báo cho Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa biết ý định của mình sẽ tiến hành thăm dò dầu lửa trong vịnh Bắc Bộ và đề nghị hai nước tiến hành đàm phán để xác định chính thức biên giới giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ

- Ngày 11 tháng 1 nắm 1974, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc tuyên bố đảo Tây Sa (tức là Hoàng Sa của Việt Nam), quần đảo Nam Sa (tức là Trường Sa của Việt Nam) là lãnh thổ của Trung Quốc và không cho ai xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Trung Quốc.

- Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Trung Quốc trả lời phiá Việt Nam, đại ý nói: đồng ý đề nghị đàm phán về vịnh Bắc Bộ, nhưng không đồng ý cho nước thứ ba vào thăm dò, khai thác vịnh Bắc Bộ, thực tế là họ ngăn cản Việt Nam hợp tác với Nhật-bản, Pháp, Ý trong việc thăm dò, khai thác thềm lục địa Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ.

- Ngày 19 tháng 1 năm 1974, với một lực lượng lớn hải quân và không quân, Trung Quốc tiến hành đánh quân đội của chính quyền Sài Gòn đóng ở quần đảo Hoàng Sa và họ gọi cuộc hành quân xâm lược quần đảo này là “cuộc phản công tự vệ”.

Từ năm 1973 về trước, phía Trung Quốc đã lấn chiếm, gây khiêu khích ở nhiều nơi trên biên giới Việt-Trung. Từ khi họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, các sự kiện biên giới do họ gây ra, các vụ lấn chiếm đất đai Việt Nam ngày càng tăng:

Năm 1974: 179 vụ.

Năm 1975: 294 vụ.

Năm 1976: 812 vụ.

Năm 1977: 873 vụ.

Năm 1978: 2175 vụ.

http://www.radiochantroimoi.com/spi...